Thị trường xuất khẩu ổn định, cạnh tranh khu vực của gạo Việt Nam vẫn được duy trì tốt
Các chuyên gia nhận định, thị trường lúa gạo thế giới vẫn đang chịu tác động từ nhiều yếu tố như xung đột địa chính trị, giá năng lượng duy trì ở mức cao và chi phí logistics chưa giảm đáng kể. Những yếu tố này tiếp tục gây áp lực lên cung – cầu và mặt bằng giá.
Các doanh nghiệp xuất khẩu cho biết người mua gạo quốc tế vẫn giữ tâm lý thận trọng, theo dõi sát diễn biến thị trường.
Giá lúa gạo hôm nay 13/4: Giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long vững, giao dịch chậm đầu tuần
Giá lúa gạo hôm nay (13/4) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục duy trì trạng thái trầm lắng trong phiên giao dịch đầu tuần khi mặt bằng giá ít biến động, hoạt động mua bán diễn ra chậm tại nhiều địa phương. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu vẫn giữ xu hướng ổn định, chưa xuất hiện yếu tố đột biến.
Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công Thương (VITIC) cho biết, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu các loại tiếp tục duy trì ổn định. Cụ thể, gạo CL 555 dao động ở mức 8.100 – 8.200 đồng/kg; gạo OM 5451 ở mức 8.650 – 8.750 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 dao động từ 9.200 – 9.400 đồng/kg.
Một số chủng loại khác cũng giữ giá như gạo OM 380 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo IR 504 ở mức 8.000 – 8.100 đồng/kg; gạo OM 18 dao động 8.900 – 9.100 đồng/kg; gạo Sóc thơm ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg. Riêng gạo thành phẩm IR 504 được giao dịch trong khoảng 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Việc giá gạo nguyên liệu không biến động mạnh được cho là do nguồn cung đang ở mức cao khi nhiều địa phương bước vào thu hoạch rộ vụ Đông Xuân, trong khi nhu cầu thu mua từ doanh nghiệp chưa tăng đáng kể.
Giá gạo bán lẻ ổn định, thị trường tiêu dùng không biến động. Cụ thể: Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đứng giá, phản ánh cung cầu trong nước đang ở trạng thái cân bằng. Trong đó, gạo Nàng Nhen hiện có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg.
Các loại gạo phổ biến khác như gạo thơm Thái hạt dài dao động từ 20.000 – 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan khoảng 20.000 đồng/kg. Gạo trắng thông dụng được bán với giá khoảng 16.000 đồng/kg.
Ở phân khúc trung bình, gạo Jasmine dao động 14.000 – 15.000 đồng/kg; gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg. Một số loại đặc thù như gạo Sóc thường có giá 16.000 – 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg; gạo Nhật dao động quanh 22.000 đồng/kg.
Giá lúa tươi ít biến động, giao dịch cầm chừng. Theo đó, đối với mặt hàng lúa, giá lúa tươi hôm nay nhìn chung ổn định, không có nhiều biến động so với cuối tuần trước. Cụ thể, lúa OM 18 và Đài Thơm 8 cùng dao động trong khoảng 5.800 – 6.100 đồng/kg.
Lúa OM 5451 được thu mua ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg; lúa IR 50404 dao động 5.400 – 5.600 đồng/kg; trong khi lúa OM 34 có giá thấp hơn, ở mức 5.100 – 5.200 đồng/kg.
Theo các thương lái, giao dịch hiện diễn ra chậm do nguồn cung tăng mạnh trong khi nhu cầu thu mua chưa cải thiện rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp vẫn giữ tâm lý thận trọng, chỉ thu mua theo nhu cầu thực tế thay vì tích trữ số lượng lớn.
Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam đến thời điểm này vẫn khá ổn định, cạnh tranh khu vực của gạo Việt vẫn được duy trì. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định ở nhiều phân khúc. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 440 – 445 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 333 – 337 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 452 – 456 USD/tấn.
So với các nước xuất khẩu lớn, giá gạo Việt Nam vẫn duy trì tính cạnh tranh. Tại Thái Lan, gạo 5% tấm hiện dao động 336 – 340 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 357 – 361 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, thị trường tiếp tục đi ngang, với gạo 5% tấm được chào bán ở mức 336 – 340 USD/tấn và gạo 100% tấm dao động 284 – 288 USD/tấn.
Các chuyên gia nhận định, thị trường lúa gạo thế giới vẫn đang chịu tác động từ nhiều yếu tố như xung đột địa chính trị, giá năng lượng duy trì ở mức cao và chi phí logistics chưa giảm đáng kể. Những yếu tố này tiếp tục gây áp lực lên cung – cầu và mặt bằng giá.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cho biết người mua gạo quốc tế vẫn giữ tâm lý thận trọng, theo dõi sát diễn biến thị trường, đặc biệt là cước vận tải, trước khi quyết định ký kết các hợp đồng mới.
Dự báo trong ngắn hạn, giá lúa gạo trong nước nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, với biên độ dao động hẹp, trong khi chờ đợi tín hiệu rõ ràng hơn từ thị trường xuất khẩu.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, giá lúa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong đầu quý II dự báo có thể giảm nhẹ do bước vào cao điểm thu hoạch vụ Đông Xuân, nguồn cung dồi dào. Tuy nhiên, thị trường vẫn có lực đỡ nhất định khi nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường chủ chốt gia tăng nhằm tích trữ lương thực trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông.
Xung đột Trung Đông hiện chưa tác động trực tiếp đến cung – cầu gạo toàn cầu, nhưng đã làm gia tăng chi phí vận tải, nhiên liệu và bảo hiểm hàng hải, qua đó đẩy chi phí xuất khẩu lên cao và khiến giao dịch chậm lại.
Trong bối cảnh nguồn cung trong nước vẫn dồi dào, nhu cầu chưa phục hồi rõ rệt, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp trong ngắn hạn. Tuy vậy, mặt bằng giá có thể chịu áp lực tăng nếu chi phí logistics tiếp tục leo thang.
Được biết, Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) Philippines mới đây bày tỏ lo ngại sản lượng gạo của nước này có thể giảm 20–50% nếu không có biện pháp can thiệp khẩn cấp từ chính phủ.
Mức sụt giảm dự kiến này chủ yếu do giá phân bón tăng cao, bị đẩy lên bởi cuộc xung đột ở Trung Đông, gây ảnh hưởng tới các vụ mùa dự kiến gieo trồng vào tháng 5 và tháng 6.
Nếu không có giải pháp cụ thể nào được đưa ra, sự sụt giảm sản lượng lúa gạo của Philippines chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung dự kiến 10 triệu tấn trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 9.
Philippines hiện là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Năm ngoái, xuất khẩu của ta sang thị trường này đạt hơn 2,7 triệu tấn. Quý I năm nay, Việt Nam xuất khẩu 2,3 triệu tấn gạo, trong đó Philippines chiếm trên 52% thị phần.