Giá lúa gạo châu Á ở thế giằng co, 300.000 tấn gạo sắp nhập kho dự trữ theo chỉ tiêu giao của Cục Dự trữ quốc gia
Tại khu vực châu Á, thị trường lúa gạo đang có dấu hiệu phục hồi khi hoạt động xuất khẩu khởi sắc hơn so với đầu tháng 4. Tuy nhiên, giá gạo châu Á vẫn dao động và chưa hình thành xu hướng ổn định, phản ánh sự giằng co giữa nguồn cung và nhu cầu. Trong nước, Cục Dự trữ quốc gia chỉ đạo các chi cục thực hiện việc nhập kho 300.000 tấn gạo...
Giá gạo vẫn dao động và chưa hình thành xu hướng ổn định, phản ánh sự giằng co giữa nguồn cung và nhu cầu.
Giá lúa gạo ngày 15/4: Thị trường gạo châu Á trầm lắng ở thế giằng co
Ngày 15/4, thị trường lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận diễn biến khá trầm lắng, nguồn hàng về ít và giao dịch chậm. Giá một số chủng loại lúa và gạo có điều chỉnh tăng – giảm nhẹ so với những ngày trước, cho thấy xu hướng biến động trái chiều.
Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương (VITIC) cho biết, hôm nay lúa tươi điều chỉnh nhẹ, giao dịch chậm.
Theo cập nhật từ địa phương, giá một số loại lúa tươi có sự thay đổi nhỏ. Lúa OM 18 và OM 380 cùng tăng khoảng 100 đồng/kg, hiện dao động lần lượt quanh mức 6.800 – 7.000 đồng/kg và 5.900 – 6.000 đồng/kg. Ngược lại, lúa OM 5451 giảm nhẹ 100 đồng/kg, còn khoảng 6.200 – 6.300 đồng/kg.
Các loại lúa khác như Đài Thơm 8 giữ ổn định ở mức 6.900 – 7.000 đồng/kg; IR 50404 dao động 5.800 – 6.000 đồng/kg; Nàng Hoa 9 ở mức 6.550 – 6.750 đồng/kg.
Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy hoạt động mua bán khá chậm. Lúa khô ít được giao dịch do doanh nghiệp và kho chứa mua vào hạn chế, trong khi lúa tươi cũng tiêu thụ chậm do nhu cầu yếu. Một số khu vực như An Giang, Cần Thơ, Long An ghi nhận lượng giao dịch thấp, thị trường kém sôi động.
Giá gạo nguyên liệu biến động nhẹ. Ở mặt hàng gạo, giá cũng có sự điều chỉnh không đáng kể. Gạo nguyên liệu IR 504 tăng khoảng 50 đồng/kg, lên mức 7.900 – 8.050 đồng/kg. Trong khi đó, gạo nguyên liệu OM 380 giảm nhẹ 50 đồng/kg, còn khoảng 7.700 – 7.850 đồng/kg. Các loại khác như gạo nguyên liệu OM 5451 giữ ở mức 9.600 – 9.750 đồng/kg.
Gạo thành phẩm nhìn chung ổn định: gạo OM 380 khoảng 8.800 – 9.000 đồng/kg, gạo IR 504 khoảng 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Phụ phẩm như tấm và cám tiếp tục duy trì mặt bằng giá tương đối cao, dao động từ 6.600 – 9.000 đồng/kg, trong đó tấm ở khoảng 6.650 – 6.800 đồng/kg và cám từ 8.000 – 9.000 đồng/kg.
Tại các chợ đầu mối và khu vực giao dịch, lượng hàng về nhỏ giọt, các kho thu mua chậm khiến giá ít biến động. Thị trường bán lẻ cũng không có nhiều thay đổi, với các loại gạo phổ biến giữ mức ổn định.
Một số loại gạo đặc sản vẫn có giá cao, như gạo Nàng Nhen khoảng 28.000 đồng/kg; gạo thơm và gạo chất lượng cao dao động từ 20.000 – 22.000 đồng/kg; gạo thường ở mức 15.500 – 17.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam hiện dao động ở mức 460–465 USD/tấn; gạo Jasmine ở mức 454–458 USD/tấn; trong khi gạo trắng thường 5% tấm được giao dịch trong khoảng 372–376 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm duy trì quanh mức 378–382 USD/tấn, cao nhất trên thị trường, trong khi gạo 100% tấm ở mức 357-361 USD/tấn.
Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan ổn định ở mức 349–353 USD/tấn.
Ở chiều ngược lại, Ấn Độ tiếp tục ghi nhận mức giá thấp nhất, với gạo trắng 5% tấm ở mức 336–340 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 284-288 USD/tấn, còn gạo đồ 5% tấm dao động từ 346–350 USD/tấn.
Tại khu vực châu Á, thị trường đang có dấu hiệu phục hồi khi hoạt động xuất khẩu khởi sắc hơn so với đầu tháng 4. Tuy nhiên, giá gạo vẫn dao động và chưa hình thành xu hướng ổn định, phản ánh sự giằng co giữa nguồn cung và nhu cầu.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo hiện vẫn trong trạng thái giao dịch chậm, cung – cầu yếu, khiến giá chỉ dao động nhẹ. Các biến động tăng giảm đan xen chủ yếu mang tính cục bộ, chưa hình thành xu hướng rõ ràng trong ngắn hạn.
Được biết, Cục Dự trữ Nhà nước vừa ban hành Quyết định số 145 điều chỉnh chỉ tiêu kế hoạch dự trữ quốc gia về nhập lương thực năm 2026 và Công văn số 609 tổ chức đấu thầu mua 300.000 tấn gạo nhập kho dự trữ quốc gia năm 2026.
Theo đó, Cục Dự trữ Nhà nước giao các chi cục dự trữ nhà nước mua nhập kho 300.000 tấn gạo năm 2026, cụ thể: Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực I mua nhập kho dự trữ quốc gia 25.800 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực II mua nhập kho dự trữ quốc gia 9.500 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực III mua nhập kho dự trữ quốc gia 32.300 tấn gạo.
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực IV mua nhập kho dự trữ quốc gia 26.000 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực V mua nhập kho dự trữ quốc gia 17.300 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực VI mua nhập kho dự trữ quốc gia 19.000 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực VII mua nhập kho dự trữ quốc gia 33.000 tấn gạo.
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực VIII mua nhập kho dự trữ quốc gia 17.000 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực IX mua nhập kho dự trữ quốc gia 16.000 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực X mua nhập kho dự trữ quốc gia 32.000 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực XI mua nhập kho dự trữ quốc gia 14.000 tấn gạo.
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực XII mua nhập kho dự trữ quốc gia 19.000 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực XII mua nhập kho dự trữ quốc gia 19.500 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực XIV mua nhập kho dự trữ quốc gia 10.300 tấn gạo; Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực XV mua nhập kho dự trữ quốc gia 9.250 tấn gạo.
Các chi cục Dự trữ Nhà nước được yêu cầu thực hiện trách nhiệm của chủ đầu tư trong đấu thầu mua gạo nhập kho dự trữ theo quy định của pháp luật về đấu thầu, đảm bảo cạnh tranh công bằng, minh bạch, không để xảy ra tiêu cực, thất thoát. Các chi cục khu vực phê duyệt và đăng tải lựa chọn nhà thầu, thông báo mời thầu.
Thời gian đóng thầu vào ngày 8/5, mở thầu trong thời hạn 2 giờ kể từ thời điểm đóng thầu. Các chi cục dự trữ nhà nước hoàn thành nhập gạo vào kho dự trữ quốc gia chậm nhất hết ngày 31/7.