image banner
Vùng đất cổ này có làng nghề khảm trai Chuôn Ngọ đã hơn 1.000 năm tuổi
Lượt xem: 66
Làng nghề Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, Hà Nội) là cái nôi của nghệ thuật khảm xà cừ nghìn năm tuổi. Từ thời nhà Lý, tiếng đục, tiếng cưa đã ngân vang nơi đây, bền bỉ tạo tác nên những tuyệt phẩm từ vỏ trai, vỏ ốc óng ánh sắc màu.
Anh-tin-bai
Giá của đồ khảm trai đắt đỏ có một phần nguyên nhân là nguyên liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài. Ảnh: Khánh Linh
 

Làng nghề khảm trai nơi vùng đất cổ nay đã hơn 1.000 năm tuổi đời

Nằm dọc theo ven sông Hồng, cách trung tâm Thủ đô khoảng 40km về phía Nam, xã Chuyên Mỹ từ lâu đã được mệnh danh là cái nôi của một tinh hoa làng nghề Việt Nam - nghề khảm xà cừ. Đặc biệt, cụm làng nghề Chuôn, mà tiêu biểu là Chuôn Ngọ, là nơi nghệ thuật khảm trai đã bén rễ và phát triển qua hàng nghìn năm.

Bước chân vào các thôn Chuôn Thượng, Chuôn Trung, Chuôn Hạ hay Chuôn Ngọ, du khách có thể dễ dàng cảm nhận mùi khét đặc trưng của vỏ ốc, vỏ trai đang được mài dũa, cùng hình ảnh những người thợ cần mẫn vẽ mẫu, cưa phôi và “cẩn” từng họa tiết li ti lên mặt gỗ. Nghề thủ công nơi đây không chỉ hiện hữu trong sản phẩm hoàn thiện mà còn sống động ngay trong nhịp lao động thường nhật.

Đi sâu vào trong làng, chúng tôi được người dân giới thiệu đến Đền thờ Tổ nghề khảm trai Chuôn Ngọ. Ngôi đền được xây dựng từ khá lâu, chếch về hướng Đông Nam. Kiến trúc kiểu chữ “đinh” bao gồm Tiền tế và Hậu cung.

Nơi đây đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử từ năm 1996, là minh chứng vững chắc cho giá trị văn hóa của nghề khảm trai. Hàng năm, vào ngày mùng 9 tháng Giêng và mùng 9 tháng Tám (âm lịch), người dân Chuôn Ngọ lại tụ hội, tổ chức lễ hội lớn để tri ân công lao của vị Tổ sư đáng kính.

Người dân Chuôn Ngọ suy tôn tướng Trương Công Thành (1053-1099), danh tướng thời nhà Lý, người có công lớn giúp Lý Thường Kiệt đánh bại quân Tống ở hai châu Ung và Liêm, là Tổ sư và Tổ nghề khảm trai.

Theo truyền thuyết và thần phả còn lưu giữ tại đền, danh tướng thời Lý Trương Công Thành là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Tống. Sau khi lập nhiều chiến công, ông xin cáo quan, về Chuôn Ngọ an dưỡng tuổi già. Trong một lần dạo bước nơi bờ biển, ông bị cuốn hút bởi vẻ đẹp ngũ sắc lấp lánh của những vỏ trai, vỏ ốc. Ông đã say mê ngắm nghía rồi nhặt về, tỉ mẩn chắp ghép chúng thành hình, thành chữ.

Nhận thấy vẻ đẹp tiềm ẩn và giá trị nghệ thuật trong công việc này, ông đã gọi dân làng đến, tận tình truyền dạy cách khảm. Kỹ nghệ ấy ban đầu được gọi là khảm xà cừ. Nghề khảm xà cừ từ đó ra đời, được lưu truyền qua hàng nghìn năm lịch sử và trở thành niềm tự hào của bao thế hệ người dân nơi đây.

Để có được một sản phẩm khảm trai hoàn chỉnh, người thợ làng Chuôn Ngọ phải trải qua một quy trình chế tác khắt khe, đòi hỏi sự tỉ mỉ và khéo léo đến kinh ngạc. Quy trình này trải qua sáu công đoạn cơ bản. Đầu tiên là vẽ mẫu cho tranh trên giấy can, rồi soi mẫu để vẽ họa tiết ấy lên nguyên liệu vỏ trai, ốc đã được ép phẳng. Tiếp đến, người nghệ nhân cưa nguyên liệu theo nét vẽ, đục gỗ và gắn những mảnh nguyên liệu họa tiết lên đó. Công đoạn này gọi là “cẩn xà cừ”.

Cuối cùng, người ta dùng bộ sơn đen hoặc đánh vecni cho bóng để họa tiết nổi lên sống động. Một bức tranh hoàn chỉnh được ra đời. Nét nổi bật của tranh khảm trai Chuôn Ngọ là những mảnh trai không vỡ, có độ phẳng hoặc được uốn cong cho phù hợp với từng loại gỗ thành phẩm. Các chi tiết kỹ thuật đục và cẩn trai rất khít.

Bà Nguyễn Thị Vui (82 tuổi), Chủ nhiệm Hợp tác xã Mỹ Nghệ Ngọ Hạ với hơn 50 năm gắn bó, khẳng định khảm trai không chỉ là nghề mà là một bộ môn nghệ thuật đặc thù. Người thợ cần ít nhất một năm trời miệt mài rèn luyện để đạt được sự thuần thục cần thiết. Đặc biệt, công đoạn “sen lọng” (công đoạn gắn từng chi tiết vào vị trí đã đục sẵn) được xem là đỉnh cao của sự tinh xảo.

“Sản phẩm khảm trai vốn không phải là món hàng hóa mang lợi ích kinh tế thông thường. Chúng là kết tinh của trí tuệ, lòng kiên nhẫn và sự sáng tạo của người Việt Nam”, bà Vui khẳng định.

Bà Nguyễn Thị Năm (51 tuổi), người đã có gần 40 năm kinh nghiệm trong công đoạn đục gỗ và cẩn xà cừ, cũng giải thích về kỹ thuật cốt lõi làm nên danh tiếng Chuôn Ngọ: “Các bước trong quy trình khảm trai đều tỉ mỉ và cần sự kiên nhẫn. Đối với tôi, khâu khó nhất là lấy đất (khoét vụn thừa sau khi đục nét) và gắn trai. Kỹ thuật đục sâu nét, lấy đất không bị bong sang bên cạnh, rồi gắn mảnh trai xuống phải vừa khít tuyệt đối, không để lại kẽ hở. Đây chính là yếu tố quyết định sản phẩm có độ bén hay không”.

Bà Năm cho biết thêm, để đạt đến trình độ này, người thợ mất ít nhất một năm học việc và luyện tập chăm chỉ.

Sức hấp dẫn của sản phẩm khảm trai Chuôn Ngọ còn đến từ chất liệu ốc xanh và đặc biệt là ốc đỏ quý hiếm, thường được nhập khẩu từ nước ngoài.

Theo bà Nguyễn Thị Vui, nguyên liệu để làm sản phẩm ở Chuôn Ngọ không chỉ là vỏ trai, vỏ ốc ở trong nước mà còn được thu mua từ các vùng biển ở Singapore, Indonesia… Sự khan hiếm cùng màu sắc độc đáo khiến giá thành sản phẩm tăng cao. Một tác phẩm khảm trai có thể có giá từ vài chục triệu đến hàng tỷ đồng, tùy kích thước, chất liệu và mức độ tinh xảo.

Tuy nhiên, theo các nghệ nhân, giá trị lớn nhất của khảm trai không nằm ở con số kinh tế mà vì chúng là kết tinh của trí tuệ, lòng kiên nhẫn và sức sáng tạo của người Việt, vượt lên trên ý nghĩa hàng hóa thông thường.

Tìm cách giữ nghề cổ truyền

Tuy nhiên, hiện nay các cơ sở sản xuất của những nghệ nhân tại Chuôn Ngọ đang phải đối mặt với thực trạng nhân công thưa dần. Cơ sở của nghệ nhân Năm hiện cũng chỉ còn vỏn vẹn 3 nhân công - tất cả đều là thợ lành nghề có thâm niên hàng chục năm.

Gắn bó với nghề từ năm 1987, bà Nguyễn Thị Năm nhớ lại: "Ngày xưa, khảm trai là một công việc rất “hot”, cả làng này nhà nào cũng làm. Nhưng giờ đây, những cơ hội việc làm nhàn hạ, thu nhập cao hơn đã khiến người trẻ dần bỏ nghề. Không phải ai cũng đủ kiên nhẫn để theo đuổi công việc thủ công này".

Chị Nguyễn Thị Nụ (40 tuổi), thợ lành nghề của xưởng kế bên cũng bày tỏ sự lo lắng sâu sắc: "Sau khi thế hệ thợ già 20-30 năm kinh nghiệm nghỉ, có lẽ làng sẽ không còn ai tiếp nối. Rất hiếm người trẻ còn theo học nghề khảm trai. Điều này khiến xưởng luôn trong tình trạng quá tải vào những mùa cao điểm như cuối năm".

Bên cạnh đó, việc tìm kiếm chỗ đứng trên thị trường hội nhập cũng là một thách thức lớn. Sản phẩm khảm trai có nhóm khách hàng đặc thù, kén người mua hơn so với đồ gỗ công nghiệp, khiến đầu ra dần bị thu hẹp.

Trước nguy cơ thất truyền, chính quyền địa phương và các chủ cơ sở sản xuất đã nỗ lực tìm kiếm giải pháp bảo tồn. Một số cơ sở, xưởng sản xuất tại làng đã đổi mới bằng cách đưa sản phẩm lên mạng xã hội, các hội chợ làng nghề để mở rộng đối tượng khách hàng, lan tỏa giá trị nghệ thuật khảm trai đến thế hệ trẻ.

Song song đó, trung tâm giới thiệu sản phẩm làng nghề đã trở thành điểm nhấn, kết nối du lịch và quảng bá các sản phẩm OCOP (mỗi xã một sản phẩm) của Chuôn Ngọ. Hiện Hợp tác xã có 8 sản phẩm được công nhận OCOP, trong đó 3 sản phẩm đoạt giải ba cấp thành phố, gồm tranh khảm trai phù dung chim trĩ, bình lọ khảm trai và hộp trang sức lưu niệm. Tất cả đều được đánh giá là những sản phẩm thủ công truyền thống tinh hoa, mang giá trị nghệ thuật cao, được người tiêu dùng nội địa cũng như quốc tế yêu thích.

Để tiếng đục, tiếng khảm tại Chuôn Ngọ có thể vang vọng mãi, không chỉ cần sự nỗ lực tự thân của các nghệ nhân trong việc truyền nghề cho lớp kế cận, mà còn rất cần những chính sách hỗ trợ kịp thời, phù hợp từ chính quyền. Đó chính là chìa khóa để giữ lửa đam mê, giúp người thợ bám trụ và lan tỏa giá trị truyền thống giữa dòng chảy hiện đại.

Nguồn bài viết: Danviet
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1