(Cổng ĐT HND) – Tháng 12-1986, Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội lần thứ VI và ra Nghị quyết về đổi mới toàn diện đất nước, trong đó Đại hội quyết định đẩy mạnh phát triển nông nghiệp trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp; thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn, trong đó có chương trình sản xuất lương thực, thực phẩm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân.
Phương châm phát triển nông nghiệp là kết hợp chuyên môn hoá với phát triển toàn diện
Đại hội chủ trương phải đưa nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu chủ yếu là tăng nhanh khối lượng và tăng năng suất hàng hoá nông sản. Nông nghiệp phải được ưu tiên, đáp ứng những nhu cầu và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về vật tư, lao động kỹ thuật.
Mở rộng hệ thống thủy lợi, ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ sinh học đưa vào sử dụng phổ biến và ổn định các loại giống mới; đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu về phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y…
Phương châm phát triển nông nghiệp là kết hợp chuyên môn hoá với phát triển toàn diện, cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, lúa và màu, cây lương thực và cây công nghiệp.
Trong nông nghiệp, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa kinh tế quốc doanh với hợp tác xã; đồng thời cải tiến quản lý nội bộ hợp tác xã, hoàn thiện phương thức khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động gắn liền với việc xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật với xây dựng nông thôn mới. Tập đoàn sản xuất ở Nam Bộ phải được củng cố theo đúng tính chất tổ chức kinh tế tập thể. Việc đưa các tập đoàn sản xuất lên hợp tác xã bậc cao, quy mô lớn phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể đã chín muồi, không làm vội vã.
Trong kế hoạch 5 năm, nghị quyết nhấn mạnh: việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nhằm tập trung cho mục tiêu số một là sản xuất lương thực và thực phẩm; đồng thời ra sức mở mang cây công nghiệp, đi liền với xây dựng đồng bộ công nghiệp chế biến, gắn lao động với đất đai, rừng, biển. Phấn đấu đến năm 1990 sản xuất 22-23 triệu tấn lương thực. Cần xác định rằng, đồng bằng sông Cửu Long là trọng điểm lúa hàng hoá lớn nhất cả nước; đồng bằng sông Hồng là trọng điểm sản xuất lúa của miền Bắc. Phải hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai, làm tốt công tác quản lý ruộng đất.
Ngoài việc tham gia phong trào sản xuất, nông dân còn tham gia xây dựng và củng cố hợp tác xã
Sau Đại hội VI của Đảng, giai cấp nông dân cả nước phấn khởi đón mừng kết quả của đại hội, đón nhận đường lối đổi mới toàn diện trong lĩnh vực nông nghiệp; đồng thời khẩn trương bắt tay thực hiện nghị quyết đại hội.
Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam đã phối hợp với huyện Giồng Trôm (Bến Tre) tổ chức một lớp huấn luyện kỹ thuật với 180 nông dân sản xuất giỏi tham gia. Các nhà khoa học đã đối thoại trực tiếp, tranh luận thẳng thắn với nông dân để tìm ra những biện pháp tăng năng suất lao động cho từng tiểu vùng sinh thái. Lớp học đã đáp ứng được một phần yêu cầu của bà con nông dân địa phương.
Nhằm khuyến khích sản xuất vụ đông ở các tỉnh phía Bắc, để tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm và hàng xuất khẩu phục vụ ba chương trình kinh tế lớn của Đảng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định về chính sách khuyến khích sản xuất vụ đông. Quyết định nêu rõ: đất làm vụ đông không phải đóng thuế nông nghiệp, Nhà nước bảo đảm đủ vật tư với giá ưu đãi cho sản xuất vụ đông…
Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thực sự mở đường cho vụ đông phát triển nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế trước mắt và lâu dài của đất nước, đồng thời tạo thêm việc làm và thu nhập cho nông dân.
Cùng với phong trào chung tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam, nông dân cả nước hăng hái tham gia phong trào hành động cách mạng, đóng góp nhiều ý kiến, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, nông dân, tăng cường tổ chức Hội Nông dân tập thể ở các cấp.
Việc đổi mới chính sách đối với nông nghiệp và nông dân nhằm giải phóng sức sản xuất, tăng nông sản hàng hoá đã đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm
Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Hoài Đức (Hà Nội) tổ chức cho toàn Ban Chấp hành Hội Nông dân tập thể huyện và Chủ tịch Hội Nông dân các xã nghe và thảo luận Dự thảo Luật Đất đai của Nhà nước, kiến nghị với Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện tăng cường công tác quản lý đất đai.
Các cấp Hội Nông dân tập thể Thái Bình phát động phong trào làm phân bón cho vụ đông (hơn ba triệu tấn), hội viên giúp nhau hơn 150 tấn thóc. Nông dân tập thể của 12 huyện, thị và 115 cơ sở xã, phường trong tỉnh Kiên Giang đóng góp hơn 35.000 ý kiến với Đảng và Nhà nước. Nông dân các huyện Châu Thành, Hòn Đất, Tân Hiệp và Giồng Giềng đẩy mạnh phong trào trồng cây công nghiệp xuất khẩu. Nông dân vùng cao huyện Yên Thủy (Hà Sơn Bình) tận dụng đất đồi trồng hơn 500 ha đậu tương…
Tại đồng bằng sông Cửu Long, ngoài việc tham gia phong trào sản xuất, tham gia xây dựng và củng cố hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp, đông đảo nông dân và Hội Nông dân các cấp tham gia phong trào xây dựng vùng kinh tế mới. Tính đến tháng 12-1987, chín tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã vận động hơn 10 vạn người đi xây dựng vùng kinh tế mới, vượt 40% về lao động và 49% về nhân khẩu của kế hoạch.
Đây là năm có số người đi xây dựng vùng kinh tế mới nhiều nhất so với những năm trước đó. Các huyện, xã, thị trấn đưa dân ở các nơi đông dân đến những vùng lõm, xoá dần các vùng hoang hoá. Các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang đưa dân lên các vùng Đồng Tháp Mười, vùng lúa nổi, khai thác có hiệu quả hơn tiềm năng đất đai và lao động.
Phong trào nông dân tham gia xây dựng vùng kinh tế mới ở đồng bằng sông Cửu Long đạt được số lượng lớn và có nhiều điển hình tốt: tỉnh Hậu Giang vừa củng cố vùng kinh tế mới xây dựng từ trước, vừa phát triển hình thức dãn dân để cấp đất làm kinh tế gia đình như trồng cây, nuôi tôm xuất khẩu. Huyện Thốt Nốt (Hậu Giang) là điển hình về sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong việc vận động và tổ chức dân đi vùng kinh tế mới. Tháng 12-1987, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 1988 và ba năm 1988-1990. Hội nghị chủ trương phấn đấu đạt các mục tiêu lớn về lương thực trong ba năm, tăng dần từ 19 lên 22 triệu tấn mỗi năm.
Bố trí lại địa bàn sản xuất nông nghiệp, tăng cường đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, vật tư, kỹ thuật cho các vùng trọng điểm lúa quốc gia, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng. Đổi mới chính sách đối với nông nghiệp và nông dân nhằm giải phóng sức sản xuất, tăng nông sản hàng hoá, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu hàng xuất khẩu…
Đồng thời, củng cố và nâng cao chất lượng các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, cải tiến cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình như chăn nuôi, làm vườn, nuôi cá… Sửa đổi mức thuế nông nghiệp cho phù hợp nhằm khuyến khích nông nghiệp phát triển và động viên nông dân hăng hái lao động sản xuất.