Đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng Hội Nông dân Việt Nam vững mạnh
(Cổng ĐT HND) – Thực hiện Nghị quyết Đại hội II Hội Nông dân Việt Nam và Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam, việc kiện toàn ban chấp hành các cấp Hội được Trung ương Hội quan tâm thực hiện.
Đại hội II Hội Nông dân Việt Nam
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân (khóa II), họp từ ngày 1 đến ngày 3-3-1994, tại thành phố Hồ Chí Minh, thông qua chương trình công tác của Hội và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội II của Hội Nông dân. Hội nghị thông qua Quy chế làm việc của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Thường trực Trung ương Hội đã tổ chức các đoàn cán bộ công tác cơ sở ở các khu vực, tiến hành xây dựng xã điểm về tổ chức và hoạt động cơ sở hội. Hội nghị bầu bổ sung đồng chí Lò Văn Inh làm Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Hội Nông dân các cấp tiến hành tổ chức đại hội, kiện toàn ban chấp hành cơ sở. Nhiều tỉnh, thành: Hải Hưng, Thái Bình, Tiền Giang, Tây Ninh, Sóc Trăng, Phú Yên, Sơn La, Bình Định... đã tiến hành đại hội nông dân ở cơ sở. Đến tháng 8-1994, trong cả nước, gần 50% số xã tiến hành xong đại hội nông dân. Năm 1994, cả nước có 6.565 xã, phường tổ chức đại hội, bầu ban chấp hành mới. Trong đó, có 80% số uỷ viên ban chấp hành mới là cán bộ chuyên trách, 45% số chủ tịch ban chấp hành là cấp uỷ viên. Ban chấp hành chi hội cấp xã sau đại hội được kiện toàn, số uỷ viên mới chiếm 50- 60%; hơn 60% số chủ tịch hội cấp xã là cán bộ chuyên trách, tuổi đời bình quân thấp hơn nhiệm kỳ trước, có tinh thần trách nhiệm tích cực, nhiệt tình tham gia công tác và được nông dân tín nhiệm; 40% số chủ tịch hội cấp xã là cấp uỷ viên.
Bộ phận thường trực ở cấp huyện, tỉnh, thành phố được sắp xếp lại. Bình quân mỗi huyện, thị Hội có từ 3 đến 5 cán bộ chuyên trách; mỗi tỉnh, thành Hội có 15 cán bộ hoạt động trong 2 đến 3 ban theo một quy chế làm việc thống nhất. Tuy nhiên, hơn 40% số chủ tịch hội xã còn kiêm nhiệm nhiều việc, giữ nhiều chức danh như: Chủ tịch Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh…). Sau đại hội cơ sở, phần lớn chủ tịch, phó chủ tịch hội cấp xã; chi hội trưởng, chi hội phó là cán bộ mới, chưa được đào tạo, bồi dưỡng về công tác Hội, nên còn lúng túng. Ở một số tỉnh, thành Hội, bộ phận thường trực ban chấp hành còn làm việc theo lối hành chính thiếu sâu sát cơ sở. Các ban giúp việc ban chấp hành các tỉnh, thành Hội chưa định hình, tổ chức chưa thống nhất.
Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam Nguyễn Đức Triều thăm thăm mô hình của nông dân Hà Nội
Thực hiện Nghị quyết Đại hội II Hội Nông dân Việt Nam, công tác xây dựng cơ sở hội được các cấp Hội chú trọng và coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Hội. Củng cố xây dựng cơ sở hội vững mạnh có vai trò quan trọng, vì cơ sở hội là nơi trực tiếp tổ chức, hướng dẫn hội viên nông dân thực hiện có hiệu quả nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ, nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác của Hội, góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, Hội Nông dân các tỉnh, thành đã ban hành nghị quyết về công tác củng cố xây dựng tổ chức Hội; đã tiến hành tổ chức điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng tình hình tổ chức, chỉ đạo thí điểm, rút kinh nghiệm trên cơ sở đó đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ củng cố xây dựng tổ chức, nhất là cơ sở hội.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Hội, các cấp Hội đã chuyển mạnh hoạt động về địa bàn cơ sở, lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội làm nội dung củng cố, phát triển Hội và hướng dẫn cơ sở hoạt động, trọng tâm là xây dựng mới và điều chỉnh tổ chức cơ sở hội theo nghề nghiệp với nhiều hình thức phong phú như: chi hội trồng lúa, chi hội làm vườn, chi hội nuôi cá lồng, chi hội nuôi bò sữa, chi hội nuôi hươu, chi hội trồng cây ăn quả, trồng cây công nghiệp, chi hội đan lát, làm gạch, ngói... ; tổ liên kết sản xuất, tổ hợp tác vay vốn. Ở những ấp, thôn, bản ít dân cư đã thành lập 1 chi hội, nơi đông dân, nhiều hội viên chi hội chia ra các tổ hội. Có chi hội toàn xã như chi hội máy kéo. Ở vùng biển tiến hành thành lập chi hội tàu đánh bắt cá, mỗi tàu là một tổ hội. Các tỉnh Nam Bộ, các tỉnh vùng ven biển thành lập mới nhiều chi hội theo nghề nghiệp và theo cụm dân cư (liền canh, liền cư).
Tháng 8-1994, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khoá II) họp đánh giá tình hình công tác xây dựng Hội qua 6 tháng đầu năm 1994, Ban Thường vụ Trung ương Hội nhận định: Hội đã tập trung tạo sự chuyển biến mới ở cơ sở, củng cố và phát triển cơ sở hội, nâng cao chất lượng hội viên, phát triển hội viên mới; các chi hội, tổ hội sinh hoạt có nội dung thiết thực hơn; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán; xây dựng quỹ Hội được quan tâm thực hiện, góp phần thúc đẩy các phong trào nông dân phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng nông thôn mới.
Hội nghị nghiêm túc kiểm điểm những mặt còn tồn tại và chỉ rõ: Nhìn chung, cơ sở hội vẫn là khâu yếu. Tổ chức của Hội tuy có bước tiến bộ mới, tích cực, nhưng tổ chức cơ sở phát triển chưa đều, chưa tập hợp đông đảo nông dân vào Hội. Còn hàng trăm xã và nhiều ấp, thôn, bản chưa có tổ chức Hội, hoặc có chỉ là trên danh nghĩa hình thức.
Trên cơ sở đó, hội nghị đề ra một số công tác chủ yếu trong năm 1994 là: làm chuyển biến mạnh mẽ và rộng khắp ở các vùng, các địa phương về đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của Hội ở cơ sở; thúc đẩy cơ sở làm tốt hơn nữa vai trò nòng cốt trong các phong trào nông dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Tiếp đó, Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân họp Hội Hội nghị lần thứ ba (3-1995) và ra nghị quyết về củng cố, phát triển cơ sở, trong đó nêu rõ: “Phải tập hợp được đông đảo nông dân vào Hội, ít nhất trong mỗi hộ phải có một lao động chủ chốt vào Hội, đến cuối năm 1995 các địa phương phải đạt mức thấp nhất là 70% số hộ có lao động chủ chốt vào Hội. Mỗi ấp (thôn, bản) tổ chức đơn vị hành động. Ấp ít dân tổ chức 1 chi hội. Ấp đông dân, chi hội nhiều hội viên chia làm nhiều tổ (tổ là đơn vị hành động). Kiên quyết xóa ấp trắng, xã trắng. Củng cố đội ngũ cán bộ cơ sở (chi trưởng, chi phó), khắc phục cho được tình trạng tổ hội, chi hội danh nghĩa hình thức, hoạt động hành chính, xã có Ban Chấp hành mà không có hội viên”.
Về phương hướng, nhiệm vụ công tác Hội năm 1995, hội nghị cho rằng: trong năm 1994, tuy đã tạo được sự chuyển động tích cực ở cơ sở và ban chấp hành các cấp, nhưng còn hẹp và chưa đều. Vì vậy, năm 1995, cần tiếp tục tập trung chỉ đạo củng cố, phát triển cơ sở, nhất là những cơ sở yếu, cơ sở trắng, sao cho không còn xã yếu, xã trắng, tạo ra sự chuyển biến đều khắp, xây dựng Hội thật sự là lực lượng nòng cốt phong trào nông dân phát triển kinh tế -xã hội nông thôn. Xây dựng cơ sở hội; kiện toàn Ban Chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; kiện toàn bộ máy giúp việc Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.
Từ ngày 29-5 đến ngày 2- 6-1995, Ban Thường vụ Trung ương Hội họp Hội nghị toàn thể đề ra nhiệm vụ của Hội là: “tập trung củng cố, xây dựng cơ sở hội là nhiệm vụ bức xúc đối với hoạt động của Hội”.
Để tập hợp rộng rãi nông dân lao động vào Hội, trước hết từ ấp, thôn, bản, xóm vận động ít nhất 70% người lãnh đạo chủ chốt vào Hội. Tổ chức ở mỗi ấp, thôn có 1 hoặc nhiều chi hội, tổ hội. Mỗi chi hội hoặc tổ hội có 1 đồng chí trưởng, 1 đồng chí phó phụ trách kinh tế, 1 đồng chí phó phụ trách văn hóa – xã hội. Củng cố ban chấp hành xã, mỗi thành viên ban chấp hành kiêm trưởng một đơn vị hành động (chi hội hoặc tổ hội).
Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội về củng cố, kiện toàn cơ sở hội, các cấp Hội tập trung củng cố, xây dựng cơ sở hội (chi, tổ hội) thực sự làm nòng cốt trong phong trào nông dân phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và coi đây là nhiệm vụ quan trọng đối với hoạt động của Hội. Các cấp Hội vận động mỗi hộ nông dân có một lao động chủ chốt vào Hội, xóa ấp trắng, xã trắng không có tổ chức Hội.
Tháng 1- 1997, Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân (khóa II), họp Hội nghị lần thứ sáu, tại Hà Nội. Hội nghị bầu đồng chí Nguyễn Đức Triều, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Thường trực làm Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam thay đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) được Bộ Chính trị điều chuyển nhiệm vụ công tác mới.
Nguyên Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam Nguyễn Đức Triều
Cũng tại Hội nghị, đồng chí Mai Thanh Ân, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Hội làm Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II Hội Nông dân và các Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, lần thứ tư và lần thứ năm về công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội, các cấp Hội đã tập trung củng cố xây dựng Hội, nhất là cơ sở hội. Hội đã có sự chuyển động tích cực và tương đối toàn diện. Đặc biệt là sự hoạt động của cơ sở theo hướng đổi mới mà nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ đề ra, nhất là việc củng cố, phát triển và nâng chất lượng hội viên, sắp xếp lại các chi hội, tổ hội theo nghề nghiệp; xây dựng quỹ hội; kiện toàn ban chấp hành cơ sở và tăng cường đội ngũ cán bộ chi hội, tổ hội. Hoạt động của cơ sở đã đi vào những vấn đề cơ bản của sản xuất và đời sống hội viên, nông dân như tạo vốn cho nông dân nghèo, chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau đẩy mạnh sản xuất v.v. góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện xoá đói, giảm nghèo và làm giàu, xây dựng cơ sở hạ tầng và các hoạt động xã hội như dân số kế hoạch hoá gia đình, chống mù chữ và các tệ nạn xã hội, v.v. thể hiện rõ hội là lực lượng hành động và làm nòng cốt phong trào nông dân phát triển kinh tế -xã hội nông thôn.
Công tác củng cố xây dựng các chi, tổ hội thành những đơn vị hành động là nhiệm vụ quan trọng đối với hoạt động của Hội. Chi, tổ hội có vai trò trong việc đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và thực hiện các nhiệm vụ do Hội đề ra. Các cấp Hội tập trung chỉ đạo xây dựng cơ sở hội (chi, tổ hội) thực sự làm nòng cốt trong phong trào nông dân phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn.
Việc xây dựng và chuyển đổi các chi hội được thực hiện theo thôn, ấp, bản, dưới chi hội có các tổ hội theo nghề nghiệp, tổ hợp tác và cụm dân cư, thực hiện mỗi tổ hội là một đơn vị hành động. Những chi hội theo loại hình này đã bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của chi bộ Đảng, phối hợp được với chính quyền và các ngành, đoàn thể khác trong đơn vị. Hơn nữa thuận tiện cho việc bố trí, phân công cán bộ và chỉ đạo hướng dẫn của Ban Chấp hành Hội xã... loại hình chi hội này được thực hiện một cách phổ biến và được nhiều địa phương khẳng định đây là loại hình hoạt động có hiệu quả nhất. Các chi hội được chia thành nhiều tổ hội. Trong cả nước đã tiến hành kiện toàn các chi hội, tổ hội theo nghề nghiệp và địa bàn dân cư. Những chi hội lớn có hàng trăm hội viên được sắp xếp thành nhiều chi, tổ hội với quy mô khoảng 50 hội viên để thuận tiện cho việc sinh hoạt. Năm 1995, theo báo cáo của 43 tỉnh, thành Hội đã có 56.640 chi hội được kiện toàn, trong đó chi hội nghề nghiệp có 104.960 tổ, so với năm 1994 tăng 2.964 chi hội. Đến năm 1997, cả nước có 108.100 tổ hội.