image banner
Mở rộng thị trường OCOP - định vị giá trị đặc sản vùng miền trên bản đồ tiêu dùng hiện đại
Lượt xem: 18
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến giữa tháng 4/2026, cả nước có hơn 20.000 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó 126 sản phẩm đạt 5 sao, thuộc hơn 10.600 chủ thể. Trong bối cảnh thị trường ngày càng đề cao giá trị bản địa và tiêu dùng bền vững, sản phẩm OCOP đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá.
Anh-tin-bai

Nhóm sản phẩm OCOP nông sản tươi và chế biến - đặc biệt là dưa (dưa hấu, dưa lưới, dưa vàng…) đang nổi lên như một lợi thế riêng của nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

Trụ cột vững chắc của kinh tế nông thôn

Chuyển đổi số đang trở thành “cánh tay nối dài” giúp các chủ thể OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) tối ưu hóa giá trị và mở rộng không gian phát triển. Từ minh bạch hóa quy trình sản xuất đến thúc đẩy tiêu thụ trên các nền tảng số, công nghệ không chỉ thay đổi phương thức kinh doanh truyền thống mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng liên kết chuỗi giá trị bền vững.

Gắn bó hơn một thập kỷ với nghề nuôi cá lóc thương phẩm, chị Hồ Thị Xuân Mai (chủ cơ sở khô cá lóc Ngọc Nhi, xã Bình Hòa, tỉnh An Giang) đã tạo nên bước chuyển mình đáng chú ý. Từ nguồn nguyên liệu cá lóc nuôi, chị phát triển thành sản phẩm đặc sản đạt chuẩn OCOP 3 sao năm 2024.

Không dừng lại ở cách làm truyền thống, chị chủ động đa dạng hóa sản phẩm như khô một nắng, khô miếng, khô sợi, khô gò má… với mức giá từ 200.000–250.000 đồng/kg.

Đặc biệt, việc đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử như Shopee, TikTok Shop và mạng xã hội đã giúp lượng khách hàng tăng mạnh. Mỗi tháng, cơ sở tiêu thụ gần 1 tấn sản phẩm, đồng thời tạo việc làm cho hàng chục lao động địa phương với thu nhập 3–5 triệu đồng/người/tháng.

Theo chị Mai, ban đầu việc tiếp cận nền tảng số không tránh khỏi bỡ ngỡ. Tuy nhiên, bằng sự kiên trì, chị từng bước làm chủ công nghệ, biến rào cản thành lợi thế.

Trên môi trường số, cơ sở không chỉ bán sản phẩm mà còn xây dựng niềm tin bằng cách minh bạch quy trình sản xuất, từ nguyên liệu đến thành phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

“Chất lượng vẫn là yếu tố cốt lõi. Song song đó, chúng tôi liên tục cải tiến bao bì, chuẩn hóa quy trình và đa dạng kênh bán hàng để tiếp cận nhiều phân khúc khách hàng hơn”, chị Mai chia sẻ.

Tương tự, tại xã Nam Lý (Ninh Bình), sản phẩm cá kho Nhân Hậu cũng đang tận dụng hiệu quả nền tảng số để mở rộng thị trường. Các cơ sở sản xuất đã đẩy mạnh quảng bá trên Facebook, Zalo, TikTok…, thu hút lượng lớn người theo dõi và khách hàng.

Điển hình, kênh TikTok “Cá kho quê Anh Chí” của chị Trần Thị Thu Hường hiện có hơn 94.000 người theo dõi, nhiều video đạt hàng triệu lượt xem. Nhờ đó, mỗi tháng cơ sở tiêu thụ gần 1.500 niêu cá kho. Việc ứng dụng công nghệ hút chân không trong đóng gói cũng giúp sản phẩm bảo quản lâu hơn, thuận lợi cho vận chuyển đi xa.

Những năm gần đây, ngày càng nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tham gia phát triển sản phẩm theo tiêu chuẩn OCOP, góp phần chuyển đổi sản xuất nông nghiệp từ nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị, có truy xuất nguồn gốc và đáp ứng nhu cầu thị trường.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam đánh giá, chương trình OCOP đã trở thành một trong những giải pháp trọng tâm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới.

Đáng chú ý, công nghệ số không chỉ hỗ trợ quảng bá mà còn nâng cao giá trị sản phẩm. Hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm chứng thông tin về xuất xứ, quy trình sản xuất, từ đó gia tăng niềm tin và sẵn sàng chi trả cao hơn.

Bên cạnh đó, dữ liệu thị trường từ các nền tảng số giúp người sản xuất nắm bắt xu hướng tiêu dùng, điều chỉnh mẫu mã, chất lượng, giảm rủi ro tồn kho. Mỗi sản phẩm OCOP ngày càng trở thành một “câu chuyện số hóa” xuyên suốt từ sản xuất đến tiêu thụ.

Quan trọng hơn, công nghệ số tạo cơ hội tiếp cận thị trường công bằng cho người dân vùng sâu, vùng xa. Chỉ với thiết bị thông minh và kỹ năng cơ bản, sản phẩm địa phương có thể vươn ra thị trường rộng lớn, thậm chí quốc tế.

Trong tương lai, sản phẩm OCOP gắn với chuyển đổi số không chỉ là hàng hóa mà còn là “đại sứ văn hóa”, kể câu chuyện về vùng đất, con người và bản sắc Việt Nam.

Hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng bộ tiêu chí OCOP mới theo hướng nâng cao chất lượng, đổi mới phương thức đánh giá, tạo động lực cho chương trình phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn 2026–2035.

Chìa khóa để nâng cao sức cạnh tranh

Chiến lược tái cơ cấu nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế nông thôn, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) tại Thanh Hóa đang bước vào giai đoạn phát triển theo chiều sâu, trong đó trọng tâm không còn là gia tăng số lượng mà là khẳng định giá trị thương hiệu. Với những sản phẩm đặc trưng như dưa các loại, bài toán xây dựng thương hiệu đang trở thành chìa khóa để nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường.

Tính đến hết tháng 3/2026, toàn tỉnh Thanh Hóa đã có 674 sản phẩm OCOP đạt từ 3 đến 5 sao, đứng trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh chuyển dịch sang giai đoạn phát triển mới - nơi mỗi sản phẩm không chỉ đạt chuẩn mà còn phải có bản sắc và chỗ đứng vững chắc trên thị trường.

 Trong hệ sinh thái OCOP, nhóm sản phẩm nông sản tươi và chế biến - đặc biệt là dưa (dưa hấu, dưa lưới, dưa vàng…) đang nổi lên như một lợi thế riêng của nhiều địa phương. Tuy nhiên, thực tế cho thấy giá trị của các sản phẩm này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do thiếu yếu tố nhận diện thương hiệu rõ ràng. Phần lớn sản phẩm vẫn tiêu thụ dưới dạng thô, phụ thuộc vào thương lái, chưa xây dựng được chuỗi giá trị bền vững.

Chính vì vậy, việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm dưa OCOP không chỉ dừng lại ở đăng ký nhãn hiệu mà phải là một quá trình đồng bộ, từ tiêu chuẩn hóa sản xuất đến hoàn thiện hình ảnh sản phẩm. Nhiều mô hình đã cho thấy hướng đi hiệu quả khi áp dụng quy trình VietGAP, truy xuất nguồn gốc, đồng thời đầu tư bao bì, tem nhãn chuyên nghiệp. Đây là những yếu tố then chốt giúp sản phẩm chuyển từ "nông sản" sang "hàng hóa có thương hiệu".

Song song với đó, Thanh Hóa đang đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết hợp tác xã - doanh nghiệp - nông dân, hình thành vùng chuyên canh quy mô lớn. Khi sản xuất được chuẩn hóa và ổn định về sản lượng, việc xây dựng thương hiệu mới có nền tảng bền vững. Thực tế cho thấy, nhiều sản phẩm OCOP từ vùng chuyên canh đã từng bước khẳng định vị thế nhờ kết hợp tốt giữa chất lượng và câu chuyện sản phẩm gắn với địa phương .

Một trụ cột quan trọng khác trong xây dựng thương hiệu OCOP là phát triển thị trường. Thay vì phụ thuộc vào kênh truyền thống, các chủ thể OCOP tại Thanh Hóa đang từng bước mở rộng sang hệ thống siêu thị, hội chợ xúc tiến thương mại và đặc biệt là các sàn thương mại điện tử. Việc đưa sản phẩm lên nền tảng số không chỉ giúp mở rộng phạm vi tiêu thụ mà còn góp phần định vị thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng.

Đáng chú ý, tỉnh cũng đang chuyển hướng chiến lược sang "chất lượng hơn số lượng", tập trung nâng cấp sản phẩm hiện có thay vì phát triển tràn lan . Điều này đặc biệt phù hợp với nhóm sản phẩm dưa - vốn dễ bị cạnh tranh và phụ thuộc mùa vụ - khi cần tạo ra sự khác biệt thông qua chất lượng ổn định, mẫu mã đồng đều và câu chuyện thương hiệu rõ nét.

Tuy nhiên, để thương hiệu dưa OCOP xứ Thanh thực sự bứt phá, vẫn cần giải quyết một số điểm nghẽn như quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, năng lực marketing hạn chế và thiếu chiến lược dài hạn cho từng sản phẩm chủ lực. Việc hỗ trợ các chủ thể trong thiết kế thương hiệu, đăng ký bảo hộ, cũng như kết nối với hệ thống phân phối lớn sẽ là yếu tố quyết định trong giai đoạn tới.

Có thể thấy, từ nền tảng 674 sản phẩm OCOP, Thanh Hóa đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển hóa lợi thế nông nghiệp thành giá trị kinh tế bền vững. Trong hành trình đó, xây dựng thương hiệu - đặc biệt với những sản phẩm giàu tiềm năng như dưa không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là "đòn bẩy" để nông sản xứ Thanh vươn xa, khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu.

Định vị giá trị đặc sản vùng miền trên bản đồ tiêu dùng hiện đại

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) ngày càng nâng tầm cả về quy mô, số lượng, chất lượng sản phẩm không ngừng chinh phục người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Tại TP. Hồ Chí Minh, sản phẩm OCOP đang mở rộng thị phần tại các kênh phân phối hiện đại, tiếp cận đa dạng khách hàng, mở ra cơ hội nâng tầm nông sản Việt. Tuy nhiên, để phát triển thị trường một cách bền vững, cần giải bài toán về tiêu chuẩn, quy mô sản xuất sản phẩm OCOP và khả năng định vị đúng khách hàng mục tiêu.

Những năm gần đây, chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã ghi nhận nhiều sản phẩm không chỉ dừng lại ở quy mô địa phương mà từng bước tiếp cận thị trường rộng lớn trong và ngoài nước, thông qua nhiều kênh phân phối hiện đại.

Phát triển sản phẩm OCOP từ vùng nguyên liệu tại địa phương, chị Nguyễn Ngọc Hương, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thiên Nhiên Việt, đã thành công đưa sản phẩm bột rau má sấy khô sang thị trường Nhật Bản. Không chỉ chinh phục khách hàng khó tính, sản phẩm này đang từng bước mở rộng mạng lưới phân phối, tiến vào các hệ thống siêu thị lớn, tăng trưởng doanh thu 2 con số mỗi năm. Tiềm năng tăng trưởng còn rộng mở khi xu hướng tiêu dùng xanh, tôn vinh tài nguyên bản địa ngày càng rõ nét tại Việt Nam.

“Chúng tôi sử dụng công nghệ sấy lạnh, giữ trọn chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Nhờ các hệ thống bán lẻ hiện đại, sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng dễ dàng hơn, sản lượng tăng đều đặn, tạo điều kiện để công ty tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu tại TP. Hồ Chí Minh và một số địa phương”, chị Nguyễn Ngọc Hương chia sẻ.

Tương tự, nhiều sản phẩm như mật ong, tinh bột nghệ hay viên nghệ mật ong đạt OCOP 3 sao, 4 sao của Công ty cổ phần Tập đoàn Xuân Nguyên cũng được người tiêu dùng biết đến rộng rãi, trở thành nhãn hàng quen thuộc với người tiêu dùng tại nhiều kênh bán lẻ hiện đại. Khi thị trường xuất khẩu bị ảnh hưởng, đơn vị đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa, duy trì nhịp sản xuất.

“Chúng tôi tập trung vào chất lượng, để người tiêu dùng thấy sản phẩm nội địa không hề thua kém ngoại nhập, đồng thời thiết kế mẫu mã, kiểm soát chi phí giá thành để đưa sản phẩm phù hợp đến tay người tiêu dùng. Nhờ nhận diện sản phẩm OCOP và nhiều chứng nhận quốc tế khác, sản phẩm ngày càng có chỗ đứng vững trên thị trường”, ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Xuân Nguyên cho biết.

Không đơn độc trên hành trình nâng tầm đặc sản quê hương, các doanh nghiệp, chủ thể OCOP đang có sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ các nhà bán lẻ. Tại nhiều hệ thống, sản phẩm OCOP được ưu ái cả về không gian lẫn vị trí trưng bày để thu hút người tiêu dùng. Bên cạnh đó, những chương trình xúc tiến thương mại, “tuần lễ sản phẩm OCOP” cũng thường xuyên được tổ chức, đưa sản phẩm OCOP đến gần hơn với người tiêu dùng.

Theo ông Nguyễn Ngọc Thắng, Phó Tổng Giám đốc Saigon Co.op, cùng với chiến lược định vị thương hiệu hàng Việt, đơn vị cũng tập trung đẩy mạnh nhóm hàng OCOP, đưa sản phẩm đặc trưng vùng miền đến tay người tiêu dùng tại hơn 800 điểm bán lẻ rộng khắp toàn quốc.

“Chúng tôi đưa đặc sản OCOP miền Nam, miền Trung ra miền Bắc và ngược lại, mong muốn người dân khắp cả nước đều được tiếp cận đặc sản mọi miền, qua đó hỗ trợ các hợp tác xã, các chủ thể gia tăng năng lực sản xuất và thị trường tiêu thụ rộng mở hơn”, ông Nguyễn Ngọc Thắng cho biết.

Sự hiện diện của sản phẩm OCOP trong hệ thống bán lẻ như siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện ích, bách hóa tổng hợp đã giúp nhiều người tiêu dùng như chị Nguyễn Thị Quỳnh Trân, ngụ phường Phước Long, TP. Hồ Chí Minh, dễ dàng tiếp cận nhiều sản phẩm OCOP từ khắp mọi miền đất nước. Điều này vừa giúp người dân thỏa đam mê thưởng thức đặc sản, vừa mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm, tôn vinh tài nguyên bản địa.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến tháng 4/2026, cả nước có hơn 20.000 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên. Số lượng sản phẩm OCOP tăng nhanh từ cuối năm 2025 đến nay, cho thấy dư địa tăng trưởng dòng sản phẩm này là rất lớn. Riêng tại TP. Hồ Chí Minh đến nay có 1.032 sản phẩm OCOP với 345 chủ thể.

Theo ông Bùi Minh Thạnh, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh, Chương trình OCOP nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế đặc thù của từng địa phương, thúc đẩy tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh trên thị trường.

“Với TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, nông nghiệp công nghệ  cao gắn với chuỗi giá trị, chương trình OCOP không chỉ góp phần chuẩn hóa sản phẩm mà còn giúp nâng cao năng lực chủ thể. Nhiều  chủ thể OCOP của thành phố đã mạnh dạn đổi mới tư duy sản xuất, đầu tư công nghệ, cải tiến mẫu mã, bao bì, nâng cao chất lượng và từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường”, ông Bùi Minh Thạnh nhấn mạnh.

Dù có nhiều tiềm năng, việc mở rộng thị trường cho sản phẩm OCOP vẫn đối mặt với không ít thách thức. Phần lớn sản phẩm OCOP vẫn đến từ các cơ sở nhỏ lẻ, hộ gia đình, khó đáp ứng đơn hàng lớn và duy trì nguồn cung ổn định, yếu tố then chốt khi tham gia hệ thống bán lẻ hiện đại.

Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm dù có chất lượng tốt nhưng chưa được chuẩn hóa về nhãn mác, truy xuất nguồn gốc hoặc chưa đáp ứng đầy đủ các quy định về an toàn thực phẩm, khiến việc tiếp cận kênh phân phối gặp khó khăn. Hạn chế trong năng lực xây dựng thương hiệu và tiếp thị của các chủ thể OCOP, thiếu câu chuyện thương hiệu rõ ràng, khiến sản phẩm chưa tạo được sự khác biệt trên kệ hàng vốn ngày càng cạnh tranh.

Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dù số lượng sản phẩm OCOP của TP. Hồ Chí Minh rất lớn, nhưng chỉ hơn 10% là sản phẩm 4 sao, còn lại là 3 sao, chưa có sản phẩm 5 sao. Đây là điều đáng tiếc với một địa phương có nhiều dư địa cả về tài nguyên lẫn thị trường như TP. Hồ Chí Minh.

Do vậy, TP. Hồ Chí Minh nên chuyển từ tư duy “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”. Theo đó, thành phố cần hỗ trợ các chủ thể nâng cao thương hiệu, định vị khách hàng mục tiêu. Với TP. Hồ Chí Minh, phân khúc OCOP quà tặng phục vụ du lịch được đánh giá là hướng đi tiềm năng.

“TP. Hồ Chí Minh cũng phải hỗ trợ các chủ thể thay đổi mẫu mã, bao bì ấn tượng, bắt mắt, dễ sử dụng, thể hiện được câu chuyện sản phẩm, dễ truy xuất thông tin nguồn gốc, xuất xứ. Một vấn đề đáng lưu ý khác là giá trị gia tăng của sản phẩm OCOP còn thấp, chủ yếu dừng ở chế biến thô. Đây là điểm hạn chế đòi hỏi thành phố cần tiếp tục đầu tư vào chế biến sâu, phát triển sản phẩm mới và xây dựng hệ sinh thái hàng hóa đa dạng để nâng cao sức cạnh tranh”, ông Nguyễn Minh Tiến chia sẻ.

Hiện nay, người tiêu dùng rất quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ và quy trình sản xuất của mỗi sản phẩm. Việc nâng cao năng lực chuyển đổi số cho các chủ thể OCOP, giúp người tiêu dùng dễ dàng truy xuất nguồn gốc và quy trình sản xuất đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gắn với câu chuyện hành trình sản phẩm, cũng là điểm nhấn để tạo giá trị mới cho sản phẩm OCOP.

Trong bối cảnh thị trường ngày càng đề cao giá trị bản địa và tiêu dùng bền vững, sản phẩm OCOP đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá. Tuy nhiên, để đi xa hơn, cần vượt qua những “nút thắt” cố hữu về quy mô, tiêu chuẩn và thị trường, từng bước định vị giá trị đặc sản vùng miền trên bản đồ tiêu dùng hiện đại./.

Nguồn bài viết: kinhtenongthon.vn
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1