image banner
Đại hội XIV của Đảng: "Đầu tư, bồi dưỡng đội ngũ nhà khoa học cho nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết"
Lượt xem: 54
Trao đổi với phóng viên Báo Dân Việt, GS.TS Vũ Trọng Hồng nhấn mạnh: Đại hội XIV của Đảng cần xác định đúng các điểm nghẽn của nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tài nguyên và môi trường; đồng thời tạo đột phá về cơ chế, con người và đầu tư hạ tầng để thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Anh-tin-bai

Nền nông nghiệp của nước ta phần lớn vẫn phục thuộc vào thời tiết, thiên tai. Ảnh: Huỳnh Xây

Trong bối cảnh diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu về chiến lược phát triển nhanh nhưng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước đang đặt ra ngày càng cấp bách. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn – trụ đỡ của nền kinh tế và xã hội – đứng trước những cơ hội mới, nhưng cũng đối diện không ít thách thức về thể chế, nguồn lực, khoa học công nghệ và con người.

Từ góc nhìn của một nhà khoa học, nhà quản lý từng nhiều năm gắn bó trực tiếp với ngành nông nghiệp và thủy lợi, trao đổi với PV Dân Việt với Giáo sư – Tiến sĩ Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng Đại hội XIV của Đảng cần chỉ ra “điểm nghẽn” cốt lõi đang kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp và quản lý tài nguyên. Theo ông, nếu không có những đột phá thực chất về cơ chế, chính sách, đầu tư hạ tầng và đặc biệt là phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, thì các mục tiêu chiến lược khó có thể chuyển hóa thành kết quả cụ thể.

Cuộc trao đổi dưới đây, không chỉ là những kiến nghị tâm huyết gửi tới Đại hội XIV của Đảng, mà còn gợi mở nhiều vấn đề lớn về tư duy phát triển, lựa chọn ưu tiên và trách nhiệm lâu dài đối với sinh kế của hàng chục triệu nông dân và tương lai bền vững của đất nước.

Phải có những đột phá thực chất về cơ chế, chính sách

Thưa GS.TS Vũ Trọng Hồng, nhìn từ thực tiễn nhiều năm công tác trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi và quản lý tài nguyên, ông kỳ vọng những định hướng lớn nào của Đại hội XIV sẽ tạo ra đột phá cho phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu?

- GS.TS Vũ Trọng Hồng: Đối với Đại hội XIV của Đảng, tôi rất kỳ vọng Đảng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế, trong đó then chốt là phải có những đột phá thực chất về cơ chế, chính sách. Sở dĩ tôi nhấn mạnh yêu cầu “đột phá” bởi so với thế giới, trình độ phát triển của chúng ta chưa phải ở mức cao; nếu không chủ động vươn lên, rất khó có thể hội nhập và phát triển tương xứng.

Lấy ví dụ trong lĩnh vực công nghiệp, nếu không nâng cao trình độ và năng lực sản xuất, chúng ta sẽ khó hợp tác bình đẳng với các quốc gia khác trong việc tiếp nhận vốn vay hay chuyển giao kỹ thuật. Với nông nghiệp cũng vậy, vấn đề đặt ra là làm sao nâng cao sản lượng, chất lượng và hiệu quả. Thực tế cho thấy, nông nghiệp Việt Nam vẫn có nhiều lợi thế từ đất đai, nguồn nước, lao động và các điều kiện tự nhiên, do đó vẫn còn dư địa phát triển so với nhiều nước trên thế giới.

Vì vậy, theo tôi, điều Đảng cần đặc biệt quan tâm hiện nay là xây dựng một cơ chế phù hợp, đi kèm với các chính sách và giải pháp cụ thể, đủ mạnh, đủ khả thi. Chỉ khi làm được điều đó, chúng ta mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh hơn, vững chắc hơn, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới – kỷ nguyên bước vào thời đại phát triển mới của dân tộc.

Trong bối cảnh sáp nhập, tinh gọn bộ máy và đổi mới mô hình quản lý nhà nước, ông đánh giá thế nào về vai trò của ngành nông nghiệp, tài nguyên và môi trường trong bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước?

- GS.TS Vũ Trọng Hồng: Nếu nhìn riêng từ góc độ nông nghiệp, qua nhiều năm làm Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, rồi Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp, tôi rút ra rằng: người đứng đầu một bộ không chỉ cần tinh thần trách nhiệm hay sự chấp hành, mà điều quan trọng nữa là phải có kiến thức sâu sắc, am hiểu thực tiễn của lĩnh vực mình phụ trách thì mới có thể dẫn dắt ngành phát triển.

Đối với nông nghiệp, yêu cầu đó lại càng khắt khe. Nông nghiệp hiện đại gắn chặt với sinh thái môi trường, đòi hỏi một nền nông nghiệp “sạch”, bền vững. Muốn vậy, không thể thiếu hiểu biết sâu về môi trường nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là điều tôi rất kỳ vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ quan tâm, chứ không chỉ dừng lại ở các giải pháp hỗ trợ người dân hay đầu tư hạ tầng.

Quan trọng hơn, trong một bộ có lĩnh vực nông nghiệp, đội ngũ lãnh đạo phải thực sự am hiểu và có kinh nghiệm thực tiễn. Nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thiên tai. Có năm tăng trưởng cao, nhưng chỉ một trận thiên tai lớn cũng có thể xóa nhòa mọi thành quả. Vì vậy, để bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, người đứng đầu ngành phải hiểu sâu những đặc thù này, từ đó có quyết sách đúng và kịp thời - đó cũng là điều tôi kỳ vọng Đại hội sẽ tính đến.

Hành động quyết liệt, tháo gỡ điểm nghẽn để nông nghiệp thực sự “cất cánh”

Thưa Giáo sư, từ kinh nghiệm từng là Thứ trưởng Bộ Thủy lợi và Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, ông kiến nghị gì đối với Đại hội XIV của Đảng về đầu tư hạ tầng thủy lợi và phòng chống thiên tai?

- GS.TS Vũ Trọng Hồng: Tôi cho rằng thủy lợi là bộ phận có ý nghĩa then chốt, thậm chí quan trọng bậc nhất đối với nông nghiệp. Khác với nhiều lĩnh vực khác, thủy lợi không thể phát triển bằng sự tự phát, mà bắt buộc phải được Nhà nước đầu tư bài bản, từ đê điều, kênh mương đến các hệ thống phòng, chống lũ bão. Đây đều là những hạng mục hạ tầng lớn, nếu không có đầu tư công thì không thể hình thành.

Trước đây, Nhà nước đã rất quan tâm đến thủy lợi và từng tạo ra những công trình mang tính đột phá. Điển hình là hồ chứa Dầu Tiếng – trong khi nhiều hồ chứa thời điểm đó chỉ đạt quy mô vài trăm triệu mét khối, thì Dầu Tiếng đã đạt tới 1,6 tỷ mét khối. Nhà nước thậm chí còn vay vốn của ADB (Ngân hàng phát triển châu Á) để nhập thiết bị, máy móc hiện đại phục vụ công trình.

Hiện nay, đầu tư có xu hướng dồn nhiều vào giao thông, trong khi thủy lợi lại chưa được quan tâm tương xứng. Giao thông dĩ nhiên cần thiết, nhưng phát triển quốc gia đòi hỏi sự cân bằng. Có những lĩnh vực, như đê điều, dù tốn kém đến đâu cũng vẫn phải đầu tư, bởi chỉ một trận thiên tai lớn cũng có thể phá hủy toàn bộ cơ sở hạ tầng, sinh kế của người dân và kéo lùi cả nền kinh tế.

Đặc biệt, cần thận trọng với các công trình ven biển. Thực tế cho thấy một số tuyến đường cao tốc ven biển vô tình trở thành vật cản thoát lũ, gây hậu quả nghiêm trọng - điều mà tôi đã chứng kiến rất rõ qua những trận bão lũ lớn vừa qua.

Vì vậy, tôi cho rằng các cơ quan chiến lược cần có cái nhìn đa chiều hơn, với sự tham gia của nhiều chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau, dựa trên phân tích khoa học và tính toán bằng công nghệ hiện đại. Ngay từ trước đây, khi còn công tác, chúng tôi đã sử dụng các mô hình kinh tế – kỹ thuật để đánh giá phương án đầu tư. Đại hội tới đây, theo tôi, cũng cần đặc biệt quan tâm và vận dụng nghiêm túc cách tiếp cận đó trong hoạch định chiến lược phát triển.

Thưa GS, Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Vậy theo ông, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học cần được xác định như thế nào?

- GS.TS Vũ Trọng Hồng: Hiện nay, cần nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng lực lượng các nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực nông nghiệp đang bị hụt hẫng. Nhiều tên tuổi lớn của thế hệ trước đã lần lượt qua đời. Chẳng hạn, nhà nông học Lương Định Của, người từng mang những tiến bộ về phân bón từ Nhật Bản về Việt Nam trong điều kiện hết sức khó khăn để nghiên cứu, ứng dụng, nay đã không còn. Ngay cả lớp kế cận sau đó, như Vũ Tiến Hoàng, giáo sư, tiến sĩ chuyên sâu về giống cây trồng, cũng đã ra đi.

 

Đặt câu hỏi một cách nghiêm túc: hiện nay, ngành nông nghiệp còn bao nhiêu nhà nông học đủ tầm để dẫn dắt, mở đường cho phát triển dài hạn? Đây là khoảng trống đáng lo ngại. Chính vì vậy, việc đầu tư, bồi dưỡng và vun đắp đội ngũ nhà khoa học cho nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, theo quan sát của tôi, tại nhiều cơ sở đào tạo, kể cả Đại học Nông nghiệp, vẫn chưa thấy những chương trình bài bản nhằm phát hiện và đào tạo nhân tài thực sự cho ngành.

Trong khi đó, lĩnh vực thủy lợi lại có cách tiếp cận khác. Tại Đại học Thủy lợi, đã hình thành các khoa, bộ môn chuyên sâu, đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ tiệm cận quốc tế, thậm chí hợp tác với các chuyên gia từ Hà Lan trong những vấn đề như đê điều, quản lý nước. Ngược lại, nông nghiệp hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào tinh thần tự lực, tự cường trong nước. Nếu không sớm có chiến lược phát triển nhân lực khoa học bài bản, đây sẽ là rào cản lớn cho sự phát triển bền vững của ngành trong tương lai.

Từ kinh nghiệm thực tiễn và tham gia hoạch định chính sách, theo ông, cơ chế nào sau Đại hội XIV sẽ giúp nghị quyết về nông nghiệp, tài nguyên và môi trường đi vào cuộc sống nhanh hơn?

- GS Vũ Trọng Hồng: Tôi không dám bàn sâu về những vấn đề lớn của nghị quyết ở góc độ cơ chế, nhưng điều tôi cho rằng Đại hội nhất thiết phải làm rõ là xác định đúng những “điểm nghẽn” của nông nghiệp. Đại hội là nơi hội tụ trí tuệ tinh hoa, từ lãnh đạo đến các đại biểu, thì càng cần chỉ ra rõ nông nghiệp đang vướng ở đâu, ách tắc chỗ nào. Nếu không làm rõ được điều này, rất khó nói đến phát triển bền vững.

Thực tế, chúng ta thường nhìn vào bức tranh chung: đời sống nhân dân được cải thiện, kinh tế tăng trưởng, khoa học – công nghệ tiến bộ, rồi từ đó suy luận rằng nông nghiệp cũng phát triển tương ứng. Cách nhìn ấy, theo tôi, cần hết sức thận trọng. Nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên, đồng thời gắn chặt với trình độ khoa học – công nghệ chuyên ngành, nên không thể đánh giá một cách giản đơn.

Qua theo dõi báo chí và các diễn đàn, tôi nhận thấy lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn ít những ý kiến phản biện sâu sắc, những chất vấn đến tận cùng vấn đề để tìm ra lối thoát thực sự. Đây chính là khoảng trống mà Đại hội cần quan tâm, nếu muốn nông nghiệp thực sự trở thành nền tảng vững chắc cho phát triển lâu dài của đất nước.

Vậy thưa ông, điểm mới quan trọng nhất mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cần nhấn mạnh để hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và sinh kế nông dân là gì?

- GS.TS Vũ Trọng Hồng: Nếu đặt kỳ vọng vào Đại hội, thì điều quan trọng nhất lúc này là chúng ta không chỉ vẽ ra một tương lai đẹp, mà phải xác định rõ nền tảng để có thể “cất cánh”. Nói hình ảnh hơn, chúng ta đã đặt đất nước lên một “bệ phóng”, đã hình dung được đích đến của kỷ nguyên mới, nhưng câu hỏi then chốt là: những điều kiện cụ thể để bệ phóng ấy vận hành hiệu quả vẫn chưa thật rõ ràng.

Vì vậy, theo tôi, đã đến lúc phải nhìn lại một cách nghiêm túc toàn bộ những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, đặc biệt các Tổng Bí thư từ trước đến nay đã đề ra tầm nhìn và kỳ vọng lớn cho giai đoạn phát triển mới, để chắt lọc thành những chỉ tiêu cụ thể, khả thi, làm cơ sở phấn đấu.

Không thể chỉ nói đến tăng trưởng kinh tế, bởi Việt Nam hôm nay cần được đo bằng chất lượng nguồn nhân lực, trình độ dân trí và năng lực trí thức của toàn xã hội. Những chỉ tiêu về con người, về nhân tài hiện vẫn còn mờ nhạt, trong khi thế giới đang đi rất nhanh. Chúng ta có thể vay vốn, hợp tác quốc tế, nhưng nếu năng lực tiếp nhận và vận hành không tương xứng thì hiệu quả sẽ rất hạn chế.

Kinh nghiệm từ các dự án vay vốn lớn trong ngành thủy lợi trước đây cho thấy, nếu không tổng kết, đánh giá đến nơi đến chốn thì nguồn lực có thể bị lãng phí mà không để lại giá trị lâu dài. Vì thế, điều tôi mong muốn nhất là Đại hội XIV của Đảng sẽ xem xét kỹ lưỡng từ chủ trương đến kết quả cuối cùng, để mỗi mục tiêu đặt ra đều có khả năng đi đến đích một cách thực chất.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn bài viết: Danviet
Tin cùng chuyên mục
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1