image banner
Gạo phát thải thấp: Cơ hội để nâng vị thế gạo Việt trên bản đồ xuất khẩu
Lượt xem: 21
Trong nhiều năm, canh tác lúa ở Việt Nam vẫn áp dụng theo phương thức truyền thống, bón phân và phun thuốc hóa học quá mức. Hệ quả là chi phí tăng cao, đất trồng bị suy thoái, ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính.
Anh-tin-bai

Giám đốc Trung tâm KCQG Lê Quốc Thanh (trái) cùng các đại biểu tham quan, đánh giá giải pháp băm rơm kết hợp với xử lý vi sinh để phân hủy nhanh thành phân hữu cơ tại ruộng, giúp giảm phát thải trong canh tác lúa tại ĐBSCL. Ảnh: NNVN

Chính vì thế, mô hình canh tác lúa giảm phát thải ra đời như một hướng đi mới. Không chỉ là một mô hình sản xuất, đây là một phương pháp tư duy canh tác tiên tiến, đặt yếu tố hiệu quả – bền vững – thân thiện môi trường làm trung tâm.

Song song đó, sản xuất lúa giảm phát thải không chỉ là xu hướng mà trở thành điều kiện cạnh tranh. Ngoài ra, thị trường gạo phát thải thấp còn mở ra cơ hội mới cho Việt Nam, cơ hội để nâng vị thế gạo Việt trên bản đồ xuất khẩu.

Thích ứng với quy trình mới

Tại Việt Nam, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên yêu cầu giảm phát thải và tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe trở thành sức ép chính đối với ngành lúa gạo.

Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường): "Việt Nam từng tăng trưởng mạnh nhờ năng suất. Hiện, năng suất lúa đạt khoảng 6 tấn/ha, tổng sản lượng hơn 43 triệu tấn mỗi năm. Tuy nhiên, dư địa tăng thêm về sản lượng không còn nhiều. Mô hình tăng trưởng bằng sản lượng không còn phù hợp”.

Đồng thời, ông Tuấn cũng cho rằng, ngành lúa phải chuyển sang cách tiếp cận “kinh tế lúa gạo”, nghĩa là giá trị không chỉ nằm ở hạt lúa mà nằm ở cách trồng, quy trình sản xuất và những yếu tố môi trường đi kèm.

Theo ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai nhiều chương trình theo hướng này, như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đề án Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035. Trên cơ sở đó, người nông dân trồng lúa theo chuẩn mới có thể có thêm nguồn thu từ thị trường carbon, thay vì chỉ bán gạo như trước đây.

Để tham gia, nông dân phải áp dụng quy trình canh tác chuẩn gồm giảm lượng giống gieo sạ, giảm phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật; tưới ngập khô xen kẽ; quản lý và tái sử dụng rơm rạ. Kết quả thử nghiệm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trên các mô hình cho thấy phát thải mêtan giảm từ 20-40%, trong khi lợi nhuận tăng hơn 30%.

Song song đó, hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm tra phát thải (MRV) đang được xây dựng. Khi có dữ liệu đầy đủ và minh bạch, ruộng lúa đủ điều kiện có thể tham gia cơ chế tài chính carbon, mở ra cơ hội thu nhập bổ sung cho người trồng lúa.

Cơ giới hóa và số hóa cũng được đưa vào đồng ruộng. Drone được sử dụng để gieo sạ, bón phân; dữ liệu vùng trồng được ghi nhận để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Đây là nền tảng để hạt gạo không chỉ đáp ứng yêu cầu chất lượng mà còn minh bạch toàn bộ quá trình sản xuất.

Trong quá trình triển khai Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Tại Đồng Tháp, các vùng tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm chi phí đầu vào, tăng chất lượng và nâng giá trị hạt gạo xuất khẩu. Ông Lê Chí Thiện, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cho biết, địa phương sẽ tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất lúa chất lượng cao gắn với giảm phát thải, ưu tiên xây dựng vùng nguyên liệu lớn liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu. 

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long được xem là bước chuyển lớn của ngành lúa gạo Việt Nam. Không chỉ tạo vùng nguyên liệu lớn, đề án còn thay đổi phương thức sản xuất theo hướng giảm giống gieo sạ, giảm phân bón, tiết kiệm nước và giảm phát thải khí nhà kính.

Ông Nguyễn Như Cường, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt (nay là Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) cho rằng, lúa gạo hiện là ngành đi đầu trong giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt với các quy trình như “1 phải 5 giảm”, tưới ngập khô xen kẽ (AWD) đã được áp dụng hiệu quả tại nhiều địa phương.

Tuy nhiên, theo ông Cường, việc tham gia thị trường tín chỉ carbon vẫn là quá trình phức tạp và tốn kém. Vì vậy, ưu tiên trước mắt của ngành nông nghiệp vẫn là xây dựng được quy trình sản xuất phát thải thấp, nâng cao giá trị hạt gạo và đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.

Tăng lợi thế cạnh tranh

Ngày 27/11/2023, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg. Sau hơn hai năm triển khai, việc tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp hiện đạt khoảng 354.839 ha, tương đương 197% kế hoạch giai đoạn đầu của đề án.

Cùng với việc mở rộng diện tích, tư duy sản xuất của nông dân cũng dần thay đổi theo hướng giảm phát thải, nâng cao giá trị và bảo vệ môi trường. Nhiều quy trình canh tác bền vững như quản lý nước tưới tiên tiến, sử dụng phân bón hợp lý hay xử lý rơm rạ sau thu hoạch đã được áp dụng ngày càng rộng rãi.

Tại các mô hình thí điểm do Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn, lượng giống gieo sạ giảm khoảng 45%, phân bón giảm 30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2–3 lần/vụ, trong khi lượng nước tưới giảm khoảng 20% nhờ áp dụng phương pháp tưới ngập – khô xen kẽ.

Nhờ đó, năng suất lúa tăng khoảng 12%, chi phí đầu vào giảm khoảng 40%, lợi nhuận của nông dân tăng trung bình 6 triệu đồng/ha/vụ. Đặc biệt, lượng phát thải khí nhà kính giảm khoảng 3–4 tấn CO₂/ha/vụ.

Song song với thay đổi kỹ thuật canh tác, mức độ cơ giới hóa trong sản xuất lúa cũng tăng nhanh. Tại các mô hình thí điểm, 100% diện tích làm đất và thu hoạch đã được cơ giới hóa, nhiều khâu sản xuất áp dụng máy cấy, máy sạ hàng hoặc thiết bị bay không người lái.

Hiện, có 1.129 hợp tác xã và tổ hợp tác cùng hơn 210 doanh nghiệp tham gia đề án. Khoảng 600 hợp tác xã đã ký liên kết sản xuất – tiêu thụ với doanh nghiệp, đảm nhiệm 60–70% diện tích của chương trình.

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam Lê Thanh Tùng cho biết, khi diện tích canh tác tiếp tục mở rộng, sản lượng gạo xanh phát thải thấp có thể tăng gấp đôi, đạt khoảng 150.000 tấn trong thời gian tới.

“Giảm phát thải không làm hạt gạo ngon hơn, nhưng chắc chắn nâng tầm thương hiệu. Khi thương hiệu quốc gia mạnh lên, sức cạnh tranh của gạo Việt trên thị trường quốc tế sẽ được củng cố”, ông Tùng nhận định.

Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho hay, các thị trường nhập khẩu lớn hiện không chỉ quan tâm chất lượng sản phẩm mà còn quan tâm quá trình sản xuất có minh bạch hay không, có giảm phát thải và bảo đảm trách nhiệm môi trường hay không.

Xây dựng thương hiệu, rộng đường xuất khẩu

Cùng với thay đổi trong sản xuất, việc xây dựng thương hiệu gạo xanh cũng đang được đẩy mạnh. Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam đã bước đầu phát triển nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”.

Đến nay, diện tích lúa được cấp nhãn hiệu đạt hơn 18.000 ha, tương ứng sản lượng khoảng 75.000 tấn gạo. Trong đó, 500 tấn gạo đã được xuất khẩu sang Nhật Bản – một trong những thị trường có tiêu chuẩn chất lượng khắt khe nhất.

Ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An (Cần Thơ) cho biết, công ty xuất khẩu lô hàng 500 tấn, giống gạo Japonica (gạo Nhật) sang Nhật Bản trong tháng 5/2025. Sản phẩm đã vượt qua các yêu cầu kỹ thuật khắt khe của phía bạn. Dù sản lượng không lớn nhưng đây là lần đầu tiên sản phẩm gạo Việt Nam xuất khẩu vào thị trường cao cấp nhất với nhãn hiệu "low carbon" và lại vào thị trường khó tính nhất. Ở góc độ thị trường, khả năng lúa gạo mang thương hiệu phát thải thấp sẽ rất triển vọng.

Theo các chuyên gia trong ngành, bối cảnh thị trường gạo toàn cầu hiện nay cũng cho thấy ngành lúa gạo Việt Nam không còn nhiều dư địa để cạnh tranh chủ yếu bằng giá. Sau khi Ấn Độ dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo, giá gạo thế giới liên tục giảm. Trong 4 tháng đầu năm 2026, giá xuất khẩu gạo bình quân của Việt Nam chỉ còn khoảng 468 USD/tấn, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng gia tăng yêu cầu về phát triển bền vững, phát thải carbon và truy xuất nguồn gốc. EU đang thúc đẩy các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Environmental, Xã hội - Social, Quản trị doanh nghiệp - Governance) ngày càng khắt khe hơn. Nhật Bản, Hàn Quốc cũng gia tăng yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm. Ngay cả những thị trường vốn ưu tiên giá như Philippines hay Indonesia cũng bắt đầu quan tâm hơn đến yếu tố ổn định nguồn cung và sản xuất bền vững. Điều này đồng nghĩa cuộc cạnh tranh của ngành gạo trong tương lai sẽ không chỉ nằm ở giá bán hay sản lượng, mà còn ở khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường.

Việc Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam bước đầu xây dựng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” và đã có những lô hàng đầu tiên xuất sang Nhật Bản cho thấy ngành lúa gạo đang từng bước đi theo hướng này.

Hiện, thị trường gạo phát thải thấp vẫn là phân khúc nhỏ và yêu cầu kỹ thuật rất cao. Nhưng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu để hạt gạo Việt Nam đi xa hơn trên thị trường quốc tế. Nếu quá trình này được triển khai bài bản, năm 2026 có thể sẽ được nhắc tới như giai đoạn ngành lúa gạo Việt Nam bắt đầu bước sang một hướng phát triển mới, nơi giá trị của hạt gạo không chỉ nằm ở sản lượng xuất khẩu, mà còn ở cách hạt gạo ấy được tạo ra.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhấn mạnh, giảm phát thải không còn là câu chuyện riêng của môi trường mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nông sản Việt Nam duy trì năng lực cạnh tranh. Theo đó, trong giai đoạn 2026 - 2030, ngành Nông nghiệp sẽ tập trung hoàn thiện hệ thống MRV (đo đếm, báo cáo và thẩm định phát thải) đối với cây lúa và từng bước mở rộng sang cà phê, ngô, sầu riêng cùng nhiều ngành hàng chủ lực khác.

Song song với đó là xây dựng bộ tiêu chí canh tác giảm phát thải, phát triển nhãn hiệu “nông sản phát thải thấp Việt Nam” và hình thành hệ thống dữ liệu phát thải đồng bộ trên phạm vi toàn quốc.


Nguồn bài viết: kinhtenongthon.vn
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1