image banner
TS.Đặng Kim Sơn: Nông dân Việt Nam có công tạo nên lợi thế cho nông nghiệp Việt
Lượt xem: 333
Nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930- 14/10/2025), TS.Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, chuyên gia hàng đầu về chính sách nông nghiệp đã có cuộc trao đổi với phóng viên Dân Việt về vai trò chủ thể, trung tâm của nông dân Việt Nam trong quá trình thực hiện các nghị quyết của Đảng.
Anh-tin-bai

TS.Đặng Kim Sơn, nguyên là Viện trưởng Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930- 14/10/2025), TS.Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn và là chuyên gia hàng đầu về chính sách nông nghiệp đã có cuộc trao đổi với Báo NTNN/điện tử Dân Việt về vai trò chủ thể, trung tâm của nông dân Việt Nam, của ngành nông nghiệp trong quá trình thực hiện các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong 40 năm đổi mới (từ 1986 đến nay).

Nông dân là chủ thể đưa nông nghiệp từ vai trò nền tảng lên thành lợi thế

Nhân kỷ niệm 95 năm thành lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930- 14/10/2025), ông đánh giá như thế nào về vai trò chủ thể, trung tâm và những đóng góp to lớn của nông dân Việt Nam trong quá trình thực hiện các nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn?

- Suốt chiều dài lịch sử, người nông dân được nhìn nhận là lực lượng lao động thời bình và chiến binh thời chiến. Cách mạng Tháng Tám đem lại cho họ quyền công dân quốc gia độc lập.

Từ thập kỷ 1960, họ trở thành xã viên hợp tác xã, làm người lao động đi vào các lĩnh vực kinh tế và đi khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới khắp mọi miền. Từ đổi mới giữa thập kỷ 1980, người dân nông thôn được tự chủ làm ăn, phần lớn trong số họ tham gia vào thị trường lao động không chính thức, một số rời quê hương đi làm ăn xa, đi xuất khẩu lao động.

Nghị quyết Trung ương năm 2008 xác định nông dân là chủ thể phát triển nông thôn, được quyền biết, bàn, làm, kiểm tra, tham gia, thụ hưởng,… nhưng chưa thực sự tham gia vào quá trình ra quyết định phát triển bản thân và quê hương. Với xã hội, họ vẫn là sức lao động sẵn có nhất, rẻ nhất.

Trong suốt lịch sử, nông dân là lực lượng chính bảo vệ đất nước trước thiên tai, dịch bệnh, ngoại xâm, là người đi đầu đổi mới, đóng góp hội nhập quốc tế. Quan trọng nhất, họ tạo nên lợi thế nông nghiệp Việt Nam - là nền tảng cho phát triển bền vững. Mỗi khi đất nước gặp biến động, nông nghiệp luôn đóng vai trò “bệ đỡ”: đảm bảo an ninh lương thực, kiểm soát giá cả, ổn định chính trị và tạo việc làm…

Mặt khác, nông nghiệp chính là động lực kinh tế quan trọng. Nông sản xuất khẩu mạnh, góp phần cân bằng cán cân thanh toán, ổn định tỷ giá và kinh tế vĩ mô. Trong khi công nghiệp, dịch vụ phát triển đóng góp mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu, thì nông nghiệp vẫn là ngành có tỷ lệ đóng góp nội địa cao nhất, ít phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài nhất, có tỷ lệ thặng dư thương mại lớn nhất, có chỉ số hiệu quả đầu tư ICOR cao nhất... Chưa kể đến các hiệu quả về xã hội ở môi trường.

Nông dân là chủ thể đưa nông nghiệp từ vai trò nền tảng lên thành lợi thế có thể phát triển thành động lực tăng trưởng kinh tế quốc gia dù không mấy ai chú ý đến. Khi Nghị quyết 68 khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của kinh tế thì chủ yếu nhắc đến 1 triệu doanh nghiệp và 500.000 hộ kinh doanh. Phần đóng góp hơn 50% GDP, sau khi trừ đi phần tất cả các bên khác (FDI, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã,…) thì còn lại tới 9% do 9 triệu hộ nông dân đóng góp.

Rõ ràng hơn, ngành nông nghiệp đóng góp 12% GDP, tạo ra 15% tổng kim ngạch xuất khẩu, đưa đất nước lên thứ 15 thế giới và thứ 2 Đông Nam Á về xuất khẩu nông sản. Nông dân đang góp lực lượng lao động lớn nhất cho xã hội. Năm 2024, lao động có việc làm trong nông nghiệp chiếm 26% và lao động ở nông thôn góp hơn 61% tổng lao động có việc làm xã hội.

Ba việc phải làm ngay

Theo ông, Đảng, Nhà nước, Hội Nông dân Việt Nam cần có những chính sách, sự hỗ trợ gì để hỗ trợ nông dân tiếp tục phát huy vai trò chủ thể, trung tâm của mình trong quá trình thực hiện các Nghị quyết của Đảng về tam nông trong giai đoạn mới tới?

-Nông dân Việt Nam có vị trí quan trọng trong xã hội. Hiện đang nắm giữ các kỷ lục về năng suất cây trồng, về xuất khẩu nông sản, đã đưa đất nước về trước mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc về giảm nghèo, góp phần đảm bảo an ninh lương thực thế giới.

Trong tương lai, nông dân Việt Nam sẽ tiếp tục là đơn vị sản xuất chính tạo nên sức mạnh của nền nông nghiệp Việt Nam, là tổ chức khởi đầu để khởi nghiệp kinh tế tư nhân, là gốc rễ lực lượng lao động sẽ lan tỏa sang mọi lĩnh vực kinh tế đất nước, là số lượng dân cư đông đảo nhất tạo nên quá trình đô thị hóa.

Mặc dù vậy, nông dân Việt Nam vẫn là những hộ nông dân có quy mô đất ruộng bé nhất thế giới, không nằm trong nhóm hầu hết nông dân các nước ở Đông Nam Á, Đông Bắc Á thường xuyên nhận trợ cấp từ chính phủ. Tỷ trọng đầu tư cho nông nghiệp khoảng 8% ngân sách nhà nước dẫn đến toàn xã hội chỉ đầu tư khoảng 5%.

Đầu tư không đúng mức kéo dài, nông nghiệp tăng trưởng chậm, nông dân chất lượng thấp và số lượng giảm. Chỉ khoảng 2,4% - 4,5% lao động của nông hộ nhỏ được đào tạo nghề giai đoạn 2010 -2023.

Năm 2025 có khoảng 33 triệu người, chiếm đến 63,5% tổng số lao động cả nước đang làm việc trong lĩnh vực phi chính thức (bao gồm cả các hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản). Trong đó, 74% ở nông thôn, làm việc không có hợp đồng, không đóng bảo hiểm xã hội và không có quyền lợi xã hội rõ ràng, hưởng lương thấp, điều kiện làm việc vất vả hơn.

Vì vậy, tuy ra đi nhưng người lao động vẫn giữ ruộng, đất đai không tập trung vào tay người làm ăn giỏi. Phát triển của nông dân tác động lớn đến quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đất nước. Năm 2023 năng suất lao động nông nghiệp thấp hơn trung bình cả nước 55% kéo năng suất lao động trung bình Việt Nam thấp hơn Phillipines 1,8 lần; Thái Lan 2 lần, Malaysia 12 lần và không thể so sánh với các nước phát triển.

Theo dự báo đến năm 2030, tổng số lao động toàn quốc sẽ là 54,6 triệu người. Trong đó lao động nông nghiệp sẽ là gần 11 triệu người. Đây là yếu tố chính, là nguồn tài nguyên quan trọng nhất sẽ quyết định có thể đạt mục tiêu công nghiệp hóa và đô thị hóa của đất nước trong 10 năm tới hay không.

Chính sách gì, hỗ trợ gì cũng phải làm được ba việc: Một là, tạo điều kiện để hàng chục triệu lao động rút ra khỏi nông nghiệp vào thị trường lao động chính thức để có tay nghề và có trí tuệ chuyển sang sinh kế phi nông nghiệp. Hai là, đất đai phải tích tụ vào tay những người sản xuất giỏi để phát triển nông nghiệp trang trại.

Ba là, nông dân phải giàu lên để một phần lớn lột xác thành hàng triệu hộ sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp rồi khởi nghiệp thành doanh nghiệp và từ doanh nghiệp nhỏ tiến lên doanh nghiệp lớn. Đô thị hóa phải diễn ra ngay từ nội bộ các làng xã nông thôn. Đó là kỷ nguyên mới với người nông dân Việt Nam.

Sớm ban  hành chính sách tập trung phát triển mạnh các hợp tác xã kiểu mới

Trong bối cảnh mới, theo ông, Hội Nông dân Việt Nam cần đặt ra những nhiệm vụ đột phá nào để xây dựng hình ảnh người nông dân Việt Nam, vừa giữ gìn được truyền thống, vừa có đủ bản lĩnh, trí tuệ để hội nhập trong kỷ nguyên mới vươn mình cùng dân tộc?

 

-Nhiệm vụ quan trọng mang tính đột phá của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam lúc này phải là tuyên truyền, vận động, nhằm thay đổi tư duy của đội ngũ cán bộ từ Trung ương đến địa phương và cư dân nông thôn cùng toàn xã hội hiểu cho đúng vị thế và vai trò vô cùng quan trọng của nông nghiệp nông dân trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Phải quán triệt rằng người nông dân có làm tròn vai trò chủ thể của mình thì mới phát triển được nông nghiệp. Đất nước mới có tấm áo giáp bảo vệ trước sự biến động bất thường đang diễn ra, mới phát huy được lợi thế quốc gia để công nghiệp hóa.

Nông dân có phát triển mới tự lột xác được để thay đổi toàn bộ xã hội trong tiến trình tăng tốc đô thị hóa và toàn cầu hóa. Tài nguyên con người phải nhanh chóng biến từ sức lao động, sang tay nghề kỹ thuật, và sang trí tuệ sáng tạo trong vòng 10 năm, phải kịp giầu trước khi già. Và trước hết bắt nguồn từ lao động nông thôn đi ra.

Giải pháp đột phá mang tính quyết định nhất là đổi mới về tổ chức thể chế. Khắc phục ngay điểm yếu chí tử của hộ nông dân nhỏ và manh mún bằng cách tổ chức họ lại trong kinh tế hợp tác. Nhà nước phải ban hành chính sách tập trung phát triển mạnh các hợp tác xã kiểu mới để tăng quy mô và sử dụng đất đai hiệu quả khi lao động rút ra, điều hành bởi ban lãnh đạo do chính họ bầu ra sẽ liên kết với doanh nghiệp cung ứng nguyên, vật liệu đầu vào và doanh nghiệp thu mua, bao tiêu sản phẩm đầu ra, đồng thời cung cấp các dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất trên quy mô lớn.

Cần ưu tiên vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, khoa học công nghệ, giúp bảo quản chế biến và tiếp cận thị trường. Tài sản này thuộc về công cộng, là vốn không chia, tạo ra lợi thế để tạo khác biệt rõ giữa nông dân trong hợp tác xã so với những người ở ngoài. Đi kèm với đó là những chính sách ưu đãi cho nông dân giỏi được phép tích tụ đất đai, tích tụ vốn hình thành các trang trại lớn.

 Đối với công tác phát triển nông thôn, cần  phát huy lợi thế đa dạng điều kiện sinh thái tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế xã hội để có giải pháp thích hợp về xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí khu dân cư, phát triển sinh kế, phòng chống rủi ro, thu hút đầu tư và quy hoạch hợp lý địa bàn cư trú và mở ra khả năng đô thị hóa phù hợp. Cụ thể cần phân chia nông thôn Việt Nam thành bốn loại hình không gian phát triển chính:

Các xã ven đô, có kinh tế phi nông nghiệp chiếm đa số, dịch vụ, thương mại và cơ sở hạ tầng phát triển mạnh thì hướng phát triển tới sẽ là đô thị hóa.

Các xã vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn thì xây dựng các vùng chuyên canh gắn với các trang trại phi tập trung gắn với các trung tâm công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất, liên kết hài hòa với các đô thị trên địa bàn.

Các xã nông thôn truyền thống ở miền núi và các vùng có truyền thống văn hóa cổ truyền, sản phẩm làng nghề phong phú thì phát triển các khu dân cư bảo tồn và phát huy văn hóa bàn địa, phát triển du lịch.

Các xã vùng sâu, khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,… tái định canh, định cư đảm bảo an toàn cho người dân, thuận tiện phát triển kinh tế xã hội làm dịch vụ công ích (bảo vệ môi trường, tài nguyên, bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ bản sắc văn hóa…).

Dù ở đâu cũng cần phát triển cộng đồng để cư dân nông thôn thực sự là chủ thể tham gia bàn bạc lên kế hoạch, quản lý, tham gia thực hiện, đánh giá và ra quyết định trong các chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa. Phát triển nông thôn, xóa nghèo bền vững phải bắt đầu từ phát huy nội lực.

Trong 10 năm nước rút sắp tới, quá trình chuyển đổi xã hội diễn ra lớn nhất ở nông thôn sẽ quyết định khả năng đất nước ta về đích mục tiêu kỷ nguyên mới hay không. Là tiến trình phát huy nội lực và tự thân đổi mới, rõ ràng giải pháp quan trọng nhất để người dân nông thôn tham gia tích cực và chủ động phải là thay đổi tư duy và đổi mới thể chế.

Đó cũng chính là bài học thành công của Khoán 10 và Chỉ thị 100 trong cuộc cách mạng đổi mới 40 năm trước. Đó cũng chính là lẽ sống, là sứ mệnh để tồn tại và đóng góp của Hội Nông dân Việt Nam trong cuộc cách mạng về tổ chức hiện nay.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn bài viết: Danviet
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1