Bài dự thi "Kể câu chuyện Việt Nam": Nhìn lại hành trình thống nhất đất nước: Hòa giải và hàn gắn từ mỗi cá nhân
Nhân kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, một số cựu binh Mỹ - những người từng tham chiến ở Việt Nam và sau đó trở lại Việt Nam làm việc - và những người làm việc trong lĩnh vực nhân đạo và phát triển cộng đồng cùng một số người quan tâm đã tổ chức một cuộc gặp gỡ thân mật và ấm cúng tại một quán cà phê nhỏ ở Hà Nội. Họ đều là cựu binh Mỹ đau đáu câu chuyện trở lại Việt Nam và làm gì đó để hàn gắn, bù đắp những vết thương chiến tranh.
Một buổi gặp mặt của CCIHP với chuyên gia quốc tế và các cựu nhân viên dự án. Ảnh tác giả cung cấp.
Cựu binh Ted Hammett có thời gian làm giám đốc một chương trình phòng chống HIV ở Hà Nội. Cựu binh John Terzano là đồng sáng lập của tổ chức Cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam (VVA) và Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (VVAF). Cựu binh Chuck Searcy là đồng sáng lập dự án RENEW chuyên về rà phá bom mìn ở Quảng Trị. “Họ đều là cựu binh Mỹ đau đáu câu chuyện trở lại Việt Nam và làm gì đó để hàn gắn, bù đắp những vết thương chiến tranh”, chị Hoàng Tú Anh, Giám đốc Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP), người tham gia cuộc gặp chia sẻ.
CCIHP là một trong các tổ chức tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh thông qua Dự án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng sống của người khuyết tật tại các tỉnh bị phun rải nặng chất da cam” tại ba tỉnh miền trung là Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam. Dự án do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ (USAID) tài trợ, Trung tâm Hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET) trực thuộc Bộ Quốc phòng là cơ quan chủ quản và CCIHP là đơn vị triển khai.
Chị Hoàng Tú Anh cũng là quản lý của tôi nhiều năm trước đây. Chị cùng một số người khác trong đó có đồng nghiệp cũ và người quen của tôi đã tham gia cuộc gặp với các cựu binh Mỹ. Chị ấn tượng với chia sẻ về nghĩa vụ đạo đức của nước Mỹ và các cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam của cựu binh Ted Hammett: “Chúng ta không quên quá khứ, và quá khứ bằng cách này hay cách khác luôn hiện diện, nhưng làm gì với quá khứ mới là điều quan trọng. Hãy để sự cảm thông và tình yêu hàn gắn nỗi đau”. Chị dẫn lại câu nói nổi tiếng của Martin Luther King, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Mỹ gốc Phi, để bày tỏ quan điểm về hòa giải và hàn gắn quan hệ giữa các bên: “Hate cannot drive out hate, only love can” (tạm dịch là “Hận thù không thể xua đuổi được hận thù, chỉ tình yêu mới làm được”).
Cuộc gặp trên làm tôi nhớ lại giai đoạn những năm 2.000 khi tôi được gặp một số thanh niên là Việt kiều Mỹ và Canada, những người có bố mẹ từng là quân nhân hoặc cán bộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975. Những người tôi gặp là sinh viên và họ trở về Việt Nam để đi thực tế - thực tập theo chương trình đại học của họ.
Một trong số đó là Mylene, cô gái đến từ thành phố Sealtle, bang Washington, Mỹ. Bố của Mylene là quân nhân của chế độ cũ và từng đi học tập, cải tạo một thời gian trước khi cùng gia đình sang Mỹ. Thật tình cờ là bố tôi, một người lính nhập ngũ vào tháng 3/1975 và hành quân vào Nam ngay sau ngày thống nhất đất nước đã được phân về một đơn vị quản lý việc học tập, cải tạo của những người thuộc chế độ cũ. Tất nhiên là bố tôi và bố của Mylene không ở cùng một địa điểm và họ không biết nhau.
Mylene kể nhiều gia đình cô ấy cho tôi nghe, kể cả thời gian bố cô ấy đi học tập, cải tạo. Đó là những kỷ niệm đẹp về Đà Lạt, nơi gia đình cô ấy sinh sống trước khi sang Mỹ, hay những trải nghiệm của bố cô ấy khi lần đầu tới thăm Hà Nội sau một thời gia định cư ở Mỹ…
Tôi rất ấn tượng việc gia đình Mylene luôn coi trọng gốc gác Việt Nam và giữ gìn bản sắc dân tộc. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại nhà và vì thế Mylene có thể nói tiếng Việt trôi chảy. Mylene gọi bố là “bố” dù gia đình là người miền Nam. Việc tìm bạn đời của Mylene cũng được bố mẹ cô ấy định hướng tìm người gốc Việt.
Mylene đã ở Việt Nam trong sáu tháng để học về văn hóa và lịch sử Việt Nam. Tôi tin là cô ấy đã học được nhiều điều từ các bài giảng và trải nghiệm thực tế qua những chuyến đi và cuộc gặp với những người bạn mà cô ấy quen khi ở Hà Nội, trong đó có tôi. Đó là những thứ sẽ giúp cô ấy khẳng định và thể hiện rõ bản sắc dân tộc Việt của mình dù sinh sống ở nước Mỹ xa xôi, cũng là thứ có thể giúp cô ấy trở thành cầu nối cho sự hòa hợp và hòa giải dân tộc giữa những người Việt ở hải ngoại và trong nước.
Cũng vào dịp kỷ niệm ngày thống nhất đất nước, một đồng nghiệp cũ của tôi chia sẻ trên Facebook kỷ niệm anh đến thăm một gia đình người Mỹ gốc Việt trong một chuyến công tác tại Mỹ vào năm 2011. Gia đình anh đến thăm là một “thuyền nhân” và họ đón tiếp anh rất nồng nhiệt, chân tình. Chuyến công tác tại Mỹ và chuyến thăm gia đình một người Mỹ gốc Việt đã củng cố niềm tin của anh rằng người Việt ở nước ngoài luôn hướng về quê hương và mong muốn đất nước ngày một phát triển, thịnh vượng. Theo anh, những người ở hải ngoại còn thể hiện thái độ thù địch, chống đối và chống phá sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước chỉ là thiểu số và dần trở nên lạc lõng theo thời gian. Tôi cũng có niềm tin giống anh.
Cả tôi và Mylene, cô Việt kiều Mỹ vừa nhắc ở trên, đều sinh ra khi chiến tranh đã kết thúc, đất nước thống nhất. Nhưng qua lời kể của bố mẹ và những người đã trực tiếp tham gia cuộc chiến, chúng tôi phần nào hiểu được sự khốc liệt chiến tranh và nỗi đau khi đất nước chia cắt để từ đó hiểu hơn giá trị của hòa bình và thống nhất.
Tôi xin được trích lại một đoạn trong bài viết “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” của Tổng Bí thư Tô Lâm để chúng ta cùng nhìn lại hậu quả cuộc chiến, sự chia chia cắt và đồng lòng hướng tới tương lai:
“Chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng của hàng triệu người, mà còn để lại những di chứng sâu sắc về thể chất, tinh thần, kinh tế xã hội và môi trường, ảnh hưởng đến cả những thế hệ sinh ra khi tiếng súng đã ngưng. Không có vùng đất nào trên quê hương Việt Nam không có đau thương; không có gia đình nào mà không gánh chịu những mất mát, hy sinh và cho đến nay chúng ta vẫn còn phải khắc phục hậu quả chiến tranh và bom mìn, chất độc da cam…
Nhưng thời gian, lòng nhân ái, đức vị tha đã giúp dân tộc ta từng bước vượt qua nỗi đau, chữa lành vết thương, gác lại quá khứ, tôn trọng sự khác biệt hướng tới tương lai. Sau 50 năm đất nước thống nhất, chúng ta đã có đủ bản lĩnh, đủ niềm tin, sự tự hào và đủ bao dung để vượt qua đau thương cùng nhau nhìn về phía trước - để cuộc chiến tranh đã qua không còn là hố ngăn cách giữa những người con cùng một dòng máu Lạc Hồng”.
Cuộc thi “Kể câu chuyện Việt Nam” do Báo Dân Việt/Nông thôn Ngày nay phối hợp với Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức. Cuộc thi được phát động từ ngày 1/6/2026, thời hạn nhận bài đến hết ngày 15/8/2026. Lễ tổng kết và trao giải dự kiến diễn ra ngày 26/8/2026 tại Hà Nội.
Cuộc thi có một giải Nhất trị giá 30 triệu đồng, 2 giải Nhì mỗi giải trị giá 15 triệu, 3 giải Ba mỗi giải 10 triệu đồng và các giải thưởng có giá trị khác bao gồm: 10 giải chuyên đề, 5 giải nhân vật truyền cảm hứng.
Tác phẩm dự thi gửi về địa chỉ email: kecauchuyenvietnam2026@gmail.com hoặc qua đường bưu điện tới Ban Thời sự Chính trị, tầng 10, Tòa nhà Báo Nông thôn Ngày nay, Lô E2, Khu đô thị mới Cầu Giấy, đường Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. |