Nhà nhập khẩu bắt đầu thận trọng hơn, giá gạo Việt Nam vẫn nhích lên nhờ chất lượng cao
Thị trường gạo thế giới tiếp tục chịu ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị, giá năng lượng ở mức cao và chi phí vận tải chưa giảm đáng kể. Những yếu tố này khiến hoạt động giao dịch trên thị trường gạo toàn cầu trở nên thận trọng hơn...
Thị trường lúa gạo trong nước ngày 11/6 nhìn chung ít biến động khi hoạt động mua bán tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra chậm.
Giá lúa gạo ngày 11/6: Gạo xuất khẩu diễn biến trái chiều
Thị trường lúa gạo trong nước ngày 11/6 nhìn chung ít biến động khi hoạt động mua bán tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra chậm. Trong khi đó, trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của các nước châu Á ghi nhận diễn biến trái chiều, phản ánh tâm lý thận trọng của các nhà nhập khẩu trước những biến động về kinh tế và địa chính trị toàn cầu.
Theo ghi nhận, thị trường gạo thế giới tiếp tục chịu ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị, giá năng lượng ở mức cao và chi phí vận tải chưa giảm đáng kể. Những yếu tố này khiến hoạt động giao dịch trở nên thận trọng hơn, dù nhu cầu nhập khẩu tại một số thị trường vẫn duy trì ổn định.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm tăng thêm 1 USD/tấn, dao động trong khoảng 460 - 464 USD/tấn. Ngược lại, gạo 100% tấm giảm 1 USD/tấn, xuống còn 415 - 419 USD/tấn. Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm tăng 2 USD/tấn lên 342 - 346 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm cũng tăng 2 USD/tấn, đạt 278 - 282 USD/tấn.
Trong nước, thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Nguồn cung không nhiều trong khi nhu cầu thu mua chưa có sự cải thiện rõ rệt khiến giao dịch diễn ra khá trầm lắng.
Đối với mặt hàng gạo nguyên liệu, giá các chủng loại chủ yếu không thay đổi so với ngày trước đó. Gạo nguyên liệu IR 50404 được giao dịch quanh mức 8.700 - 8.880 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.100 - 9.300 đồng/kg; OM 5451 dao động 9.500 - 9.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg. Một số loại gạo nguyên liệu khác như OM 18, OM 380 và Sóc Thơm cũng giữ giá ổn định.
Ở nhóm phụ phẩm, giá cám tiếp tục dao động trong khoảng 7.900 - 8.100 đồng/kg. Riêng tấm thơm giảm khoảng 50 đồng/kg, xuống còn 7.750 - 7.850 đồng/kg.
Khảo sát tại các địa phương cho thấy hoạt động giao dịch vẫn khá chậm. Tại An Giang, giá gạo duy trì ổn định nhưng lượng mua bán chưa nhiều. Tại Sa Đéc và An Cư (Đồng Tháp), nguồn hàng về ít, các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ thu mua cầm chừng, khiến thị trường thiếu động lực tăng giá.
Trên thị trường bán lẻ, giá gạo tiêu dùng tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen vẫn là loại có giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg. Các dòng gạo thơm như Hương Lài, Thơm Thái hạt dài, Nàng Hoa, Đài Loan và Nhật Bản giữ nguyên mức giá so với những ngày gần đây.
Đối với mặt hàng lúa tươi, phần lớn các giống lúa phổ biến duy trì ổn định. Lúa OM 18 và Đài Thơm 8 được giao dịch ở mức 6.400 - 6.500 đồng/kg; OM 5451 ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg. Riêng lúa IR 50404 tăng 100 đồng/kg lên 5.500 - 5.600 đồng/kg. Lúa OM 34 dao động trong khoảng 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Theo ghi nhận tại các vùng sản xuất, nguồn lúa Hè Thu đã bắt đầu được chào bán nhiều hơn tại An Giang, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và một số địa phương khác. Tuy nhiên, sức mua mới vẫn còn chậm khiến mặt bằng giá chưa có nhiều biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam điều chỉnh giảm nhẹ so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine hiện được chào bán ở mức 509 - 513 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm giảm 6 USD/tấn, còn 490 - 495 USD/tấn, trong khi gạo thơm 100% tấm dao động từ 343 - 347 USD/tấn.
Gạo Việt xuất khẩu phần lớn là gạo chất lượng cao, phát thải thấp
Trước đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam nhích tăng liên tục giữa bối cảnh thị trường lo ngại El Nino có thể làm giảm sản lượng lúa gạo châu Á. Tuy nhiên, tính chung 5 tháng đầu năm, giá gạo xuất khẩu của ta vẫn thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu gạo tháng 5/2026 ước đạt 1,1 triệu tấn, trị giá 511,7 triệu USD. Lũy kế 5 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 4,5 triệu tấn gạo, thu về 2,09 tỷ USD, tăng 6,6% về khối lượng nhưng giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Giá gạo xuất khẩu bình quân trong 5 tháng đầu năm đạt khoảng 467,6 USD/tấn, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm 46,9% thị phần, tiếp đến là Trung Quốc với 17,8% và Ghana với 7,5%.
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng trong thời gian qua do lo ngại hiện tượng El Nino có thể ảnh hưởng đến sản lượng lúa gạo tại châu Á.
Trong khi đó, tại Ấn Độ, tốc độ tăng giá không quá mạnh do nguồn cung dồi dào và nhu cầu ở mức vừa phải.
Nhiều nước xuất khẩu gạo khác hiện chỉ còn lượng tồn kho dư thừa hạn chế và đang nâng giá bán do lo ngại sản lượng vụ tới có thể giảm vì tác động của El Nino.
Tại Thái Lan, giá gạo vẫn được hỗ trợ bởi chi phí nguyên liệu tăng lên, đặc biệt là giá gạo tấm dùng trong thức ăn chăn nuôi. Nhu cầu hiện chủ yếu đến từ các khách hàng truyền thống.
Từ đầu tháng 5 tới nay, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam phục hồi nhờ nhu cầu thị trường tăng mạnh trở lại, đặc biệt ở phân khúc gạo chất lượng cao.
Thông tin từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Gạo Jasmin của Việt Nam đã tăng khoảng 30 USD/tấn so với tháng trước; gạo thơm 5% tấm tăng khoảng 25 - 30 USD/tấn so với tháng trước.
Gạo ST25 tiếp tục giữ vị thế ở phân khúc cao cấp, với giá xuất khẩu khoảng trên 1.200 USD/tấn, cao hơn nhiều so với gạo trắng thông thường. Hiện lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam phần lớn là gạo chất lượng cao, cho thấy sự chuyển dịch rõ nét về cơ cấu sản phẩm.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lợi thế của gạo Việt Nam nằm ở chất lượng cao và sản xuất bền vững. Từ lô hàng "Gạo Việt xanh, phát thải thấp" đầu tiên hơn 400 tấn xuất sang Nhật Bản vào năm ngoái, đến nay khoảng hơn 70.000 tấn đã được xuất khẩu sang Nhật Bản, châu Âu và châu Úc.
Kết quả này cho thấy các sản phẩm đáp ứng cả tiêu chuẩn chất lượng và môi trường, đang có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định giai đoạn 2026 - 2030 là thời điểm then chốt để xây dựng nền nông nghiệp phát thải thấp. Ngành trồng trọt sẽ tập trung hoàn thiện quy trình kỹ thuật và hệ thống đo lường phát thải cho các ngành hàng chủ lực, trong đó có lúa gạo.
Đối với ngành lúa gạo, các mô hình tưới ngập khô xen kẽ, quản lý rơm rạ, tối ưu phân bón và cơ giới hóa sẽ tiếp tục được mở rộng gắn với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh nhờ mở rộng diện tích, tăng sản lượng và đẩy mạnh xuất khẩu, nông sản Việt Nam, trong đó có lúa gạo đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới. Chất lượng sản phẩm không chỉ được đo bằng năng suất, mẫu mã hay giá bán, mà còn bằng khả năng sản xuất xanh, minh bạch dữ liệu và giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi giá trị...