Thứ hai, 13/07/2020 (GMT+7)
Giá nông sản
Trung Quốc tiến tới chủ động lương thực nhưng vẫn tăng mua gạo nếp từ Việt Nam
15:45 - 04/06/2020
Trong khi nhiều mặt hàng nông sản giảm đáng kể về kim ngạch xuất khẩu do ảnh hưởng của dịch Covid-19 thì 5 tháng đầu năm 2020 xuất khẩu gạo vẫn tăng tới 18,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019. Hiện, Trung Quốc đang tiến tới chủ động lương thực nhưng vẫn là thị trường xuất khẩu gạo nếp lớn nhất của Việt Nam.
5 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu gạo tăng trưởng cả về sản lượng và giá trị.


Xuất khẩu gạo: Điểm sáng trong "bão" dịch Covid-19

Theo báo cáo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm 2020 đạt kết quả rất khả quan, không chịu tác động bởi dịch Covid-19, nhất là sau khi Chính phủ cho phép hoạt động xuất khẩu gạo trở lại trạng thái bình thường từ 1/5.

Tính đến ngày 15/5/2020, khối lượng gạo xuất khẩu đạt 2,6 triệu tấn, trị giá 1,2 tỷ USD, tăng 5,3% về lượng và 18,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019. 

Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 5 năm 2020 ước đạt 789.000 tấn với giá trị đạt 415 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm 2020 đạt gần 2,9 triệu tấn và 1,41 tỷ USD, tăng 5,1% về khối lượng và tăng 18,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019. 

Trong 4 tháng đầu năm 2020, Philipppines vẫn đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 40,5% thị phần, khối lượng đạt 902.100 tấn, trị giá 401,3 triệu USD, tăng 11,4% về khối lượng và tăng 26% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019.

 Ngoài ra, thị trường Trung Quốc cũng tăng cường nhập khẩu gạo từ Việt Nam (gấp 2,7 lần so với cùng kỳ năm 2019), Đài Loan (tăng 67,9%) và Gana (tăng 39,3%).

Giá gạo xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2020 đạt 470,2 USD/tấn, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2019. 

Về chủng loại xuất khẩu, trong bốn tháng đầu năm 2020, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 42,7% tổng kim ngạch; gạo jasmine và gạo thơm chiếm 35,2%; gạo nếp chiếm 16,5%; gạo japonica và gạo giống Nhật chiếm 5,4%.

Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu gạo nếp lớn nhất của Việt Nam (với 152,4 triệu USD, chiếm 68,7%), Phillipines (với 23,9 triệu USD, chiếm 10,8%) và Malaysia (với 14,8 triệu USD, chiếm 6,7%).

 Các thị trường xuất khẩu gạo trắng lớn nhất của Việt Nam là Philippines (với 288,4 triệu USD, chiếm 62,4%), Malaysia (với 63,2 triệu USD, chiếm 13,7%) và Ghana (với 13,3 triệu USD, chiếm 2,9%). 

Với gạo jasmine và gạo thơm, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Philippines (với 156,3 triệu USD, chiếm 37,4%), Ghana (với 52,0 triệu USD, chiếm 12,4%) và Gabon (với 42,9 triệu USD, chiếm 10,2%). 

Điều đáng mừng là, giá gạo xuất khẩu  của Việt Nam đã tăng đáng kể, lên mức cao nhất trong vòng 1 năm trở lại đây, đạt 450 - 460 USD/tấn. 

Trong khi đó, giá gạo Thái Lan giảm trong tháng qua do nguồn cung mới được bổ sung và khó khăn về hạn hán giảm xuống, đồng thời phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các nhà cung cấp giá rẻ hơn của Ấn Độ và Việt Nam. 

Nhu cầu đối với gạo Thái Lan không biến động nhiều trong những tuần gần đây nhưng các nhà xuất khẩu gạo của nước này kỳ vọng khách hàng Philippines sẽ quan tâm tới gạo Thái Lan khi giá giảm, dù vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ gạo Việt Nam. 

Hiện, gạo tiêu chuẩn 5% tấm của Thái Lan được niêm yết ở mức 480 - 505 USD/tấn, giảm so với đầu tháng 5 được niêm yết là 557 USD/tấn. Gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ tăng từ mức 378 – 383 USD/tấn lên 385 – 389 USD/tấn. 

Xuất khẩu gạo khởi sắc, giá lúa hè thu ấm

 Tại thị trường trong nước, giá lúa, gạo tại khu vực ĐBSCL diễn biến từ ổn định đến tăng nhẹ trong tháng qua. 

 Tại An Giang, lúa IR50404 duy trì ở mức 5.400 đồng/kg; lúa OM 5451 giảm 200 đồng/kg xuống 5.500 đồng/kg; lúa OM 6976 ổn định ở mức 5.600 đồng/kg; lúa gạo thường ổn định ở mức 11.000 đồng/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.500 đồng/kg.

 Tại Vĩnh Long, lúa IR50404 ướt tăng 200 đồng/kg lên mức 5.700 đồng/kg, lúa khô tăng 100 đồng/kg lên mức 6.000 đồng/kg; lúa hạt dài ướt tăng 200 đồng/kg lên 5.900 đồng/kg, lúa khô tăng 400 đồng/kg lên 6.200 đồng/kg.

 Tại Bạc Liêu, lúa Đài Thơm 8 ổn định ở mức 5.800 – 5.900 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg.

 Tại Kiên Giang, lúa IR50404 tăng 200 đồng/kg lên mức 5.800 – 5.900 đồng/kg; lúa OM 6976 tăng 200 đồng/kg lên 6.500 – 6.800 đồng/kg; lúa OM 5451 tăng 100 đồng/kg lên 6.700 – 6.900 đồng/kg. 

Trong khi đó, vụ hè thu 2020 ở ĐBSCL đang được đánh giá được mùa. Ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NNPTNT cho biết, các trà lúa hè thu sớm được thu hoạch cho năng suất khá cao so với cùng kỳ, với bình quân 6 tấn/ha. 

Đến cuối vụ, nếu chúng ta giữ được mức năng suất này sẽ là thành công rất lớn, bởi kế hoạch dự kiến năng suất đạt chỉ khoảng 5,7 tấn/ha.

Nhu cầu thế giới tăng, cần đón sóng

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản dự báo, xuất khẩu gạo thời gian tới còn nhiều cơ hội để tăng tốc.

Cụ thể, Philippines đang tìm nguồn nhập khẩu thêm 300.000 tấn gạo để tăng cường kho dự trữ Chính phủ nhằm đối phó với đại dịch Covid-19 và chuẩn bị cho mùa có nguồn cung thấp điểm hàng năm vào quý III. 

Bangladesh cũng đang thu mua thêm 200.000 tấn lúa từ vụ thu hoạch đang diễn ra để đảm bảo nguồn cung cho các hoạt động cứu trợ nội địa trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang lây lan ở nước này.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản khuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý đến sự cạnh tranh gay gắt từ các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan nhằm đạt được sự quan tâm của các nhà nhập khẩu gạo Philippines 

 Bên cạnh đó, theo nguồn tin từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Trung Quốc hiện đã thực hiện 95% mục tiêu tự túc lương thực (gạo, ngô, lúa mì) nhưng vẫn cho phép nhập khẩu một lượng nhất định thông qua hệ thống hạn ngạch phi thuế quan (TRQ), cho phép các thương nhân trong nước nhập khẩu với mức thuế suất chỉ còn 1% so với mức ngoài hạn ngạch 65%.

 Trong khi đó, theo dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạo của thế giới năm 2020 ước đạt 493,8 triệu tấn, giảm khoảng 0,5% so với năm 2019. 

Tiêu dùng gạo thế giới năm 2020 dự kiến đạt 490,2 triệu tấn, tăng khoảng 0,9% so với năm 2019.

Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 5 năm 2020 ước đạt 3,11 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2020 đạt 15,49 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 7,41 tỷ USD, giảm 3,2%; giá trị xuất khẩu thuỷ sản ước đạt 2,81 tỷ USD, giảm 11,5%.

Giá trị xuất khẩu chăn nuôi ước đạt 210 triệu USD, giảm 19,1%; Giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt 4,21 tỷ USD, giảm 1,9%.

Nguồn: danviet
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
50.200
50.600
Vàng nhẫn
49.970
50.520
Vàng nhẫn
49.970
50.620
Tỷ giá