Thứ sáu, 25/09/2020 (GMT+7)
Giá nông sản
Hướng đi mới trong việc trồng cà rốt sạch ở Bắc Ninh
15:00 - 25/09/2019
(Cổng ĐT HND) – Qua khảo sát thực tế, T.Ư Hội NDVN đã hỗ trợ Hội ND tỉnh Bắc Ninh xây dựng mô hình “Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong trồng cà rốt theo hướng an toàn sinh học tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”. Dự án được đầu tư và triển khai thực hiện trong năm 2019.

Xã Cao Đức hiện có 230 ha trồng cà rốt và cũng là địa phương có diện tích trồng cà rốt lớn nhất trong toàn huyện

 
Huyện Gia Bình là huyện thuần nông của tỉnh Bắc Ninh, tổng diện tích canh tác nông nghiệp toàn huyện hàng năm vào khoảng 11.000 ha. Trong đó, diện tích cấy lúa có 8.660 ha; còn lại là diện tích nuôi trồng thủy sản và vùng đất bãi ven sông. Nhờ có lượng bồi đắp phù sa màu mỡ quanh năm nên tại các vùng đất bãi hiện đã hình thành những vùng chuyên canh sản xuất các loại cây trồng, tập trung chủ yếu là rau, màu.

 
Đến nay, toàn huyện đã hình thành 11 vùng trồng trọt tập trung với quy mô hơn 150 ha ở các xã: Bình Dương, Cao Đức, Thái Bảo, Lãng Ngâm, Đại Lai, Xuân Lai. Tại các vùng này, chủ yếu là diện tích trồng lúa hàng hóa, trồng tỏi, cà rốt, cây dược liệu, hoa, cây ăn quả… Đáng chú ý, có một số doanh nghiệp, Hợp tác xã và người dân đã mạnh dạn đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật để tập trung xây dựng mô hình sản xuất hoa, rau xanh thủy canh trong nhà lưới, nhà kính, áp dụng quy trình VietGAP, làm kho lạnh để bảo quản nông sản… đang cho thấy tính hiệu quả và khả thi khi giá trị kinh tế thu về khá cao.

 
Địa bàn xã Cao Đức hiện có 230 ha trồng cà rốt. Đây là địa phương có diện tích trồng cà rốt lớn nhất của huyện. Những năm gần đây, do thời tiết mỗi khi bước vào thời điểm tập trung xuống giống sản xuất rau màu vụ Đông của bà con thường xảy ra tình trạng mưa nhiều nên khiến diện tích canh tác cà rốt có tỷ lệ đậu củ kém.

 
Theo các hộ dân trồng cà rốt tại xã Cao Đức nói riêng và ở những vùng đất bãi ven đê của huyện gồm các xã: Vạn Ninh, Thái Bảo: Nếu xét theo quy chuẩn về chất lượng thì hiện tỷ lệ củ đạt loại 1 đẹp (kích cỡ đường kính 3 – 3,5 cm, dài 15 – 20 cm) bà con chỉ thu được từ 1 – 1,5 tấn/sào (đạt khoảng 45%); trong khi vào thời điểm những năm trước, bình quân các hộ thu hoạch 2 tấn/sào, có những nhà cao điểm đạt gần 3 tấn/sào.

 
Như vậy, theo tính toán của bà con nông dân, hiện tổng chi phí để thuê mướn đất, công làm đất, thuê nhân công trồng cà rốt bình quân vào khoảng 3,5 – 4 triệu đồng/sào. Do đó, nếu với giá bán cà rốt thương phẩm trên thị trường đang ngày càng xuống thấp như hiện nay thì hầu như bà con nông dân sẽ không có lãi.

 
Do đặc tính của cà rốt khi gieo trồng từ 3,5 - 4 tháng là có thể cho thu hoạch, nếu tiếp tục để kéo dài, củ cà rốt sẽ phát triển rất to, ruột bị cứng, xanh, chất lượng kém... thì thiệt hại của người nông dân sẽ rất lớn.

 
Ngoài nguyên nhân do yếu tố thời tiết gây ra, còn một nguyên nhân cơ bản khác dẫn đến chất lượng và sản lượng của cà rốt giảm là do bà con nông dân chưa tuân thủ đầy đủ quy trình trồng và chăm sóc cây rau màu. Cùng với đó, thiếu sự tái đầu tư, quy hoạch lại thiếu thực tế; nguồn dinh dưỡng của đất giảm; việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất của người dân còn hạn chế. Ngoài ra, tình trạng sử dụng bừa bãi các loại thuốc bảo vệ thực vật diễn ra tràn lan…

 
Để giải quyết tình trạng này, hiện xã Cao Đức đã khuyến khích các hộ dân sản xuất theo hướng VietGap để có cơ sở chuyển hướng tiêu thụ cà rốt theo mô hình các hợp đồng được ký kết ổn định. Đồng thời, chính quyền và ngành chức năng cũng đang tập trung chỉ đạo các Hợp tác xã nghiên cứu cách thức trồng gối vụ theo từng vùng để tránh việc khi thu hoạch một cách ồ ạt sẽ dễ dẫn tới tình trạng người dân bị ép giá thu mua sản phẩm.

 
Tiếp đó, địa phương cũng tích cực phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu, xây dựng các mô hình điểm trình diễn trồng cà rốt có ứng dụng công nghệ cao kết hợp với các phương pháp canh tác truyền thống; phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ đẩy nhanh việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cà rốt Gia Bình.

 
Để làm được điều này, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó Hội ND đóng vai trò tuyên truyền, vận động và tham gia kết nối tiêu thụ sản phẩm.

 
Qua khảo sát thực tế, bằng những kinh nghiệm từ những mô hình trồng trọt đã triển khai ở các vùng, miền; đồng thời, căn cứ vào đề xuất xây dựng, triển khai dự án của Hội ND tỉnh Bắc Ninh, T.Ư Hội NDVN hỗ trợ xây dựng mô hình “Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật trong trồng cà rốt theo hướng an toàn sinh học tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” với quy mô 12 ha gồm 12 hộ nông dân tham gia.

 
Dự án được thực hiện ngay tại vườn, ruộng của các hộ nông dân trên cơ sở liên kết giữa các hộ dân với nhau để cùng thực hiện dự án. Các hộ nông dân tham gia mô hình ngoài các tiêu chí tự nguyện, có đủ năng lực về kỹ thuật còn phải có điều kiện về đất đai trong cùng khu vực để có thể tạo thành vùng sản xuất tập trung nhằm thuận lợi trong việc điều tiết sản phẩm và giám sát chất lượng.

 
Toàn bộ diện tích canh tác khi triển khai thực hiện dự án sẽ được bổ sung một số loại chế phẩm sinh học cho cây trồng nhằm giúp bà con nông dân chủ động trong việc giảm lượng phân bón cần phải sử dụng trên cây trồng xuống từ 10 – 15%. Khi tăng sức kháng bệnh cho cây trồng cũng sẽ làm giảm được chi phí về các loại thuốc bảo vệ thực vật; đồng thời, tăng cường sức sống, tăng khả năng chống chịu rét, giúp cây trồng đạt tỷ lệ sống cao hơn.
 

Các loại hóa chất và thuốc kháng sinh được kiểm soát chặt chẽ. Quy trình trồng đều được kiểm soát theo hướng an toàn sinh học, từ việc lựa chọn cây giống đến khi đạt yêu cầu về trọng lượng, mật độ… Từ đó, giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao từ 5 – 10%; có chất lượng sản phẩm tốt, màu sắc tươi đẹp. Bên cạnh đó, chi phí đầu vào giảm xuống do lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cần sử dụng giảm; mẫu mã nông sản đẹp hơn, có chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

 
Đặc biệt, môi trường đất sẽ được cải tạo; độ phì nhiêu tăng lên đáng kể do lượng phân bón sinh học khi được hấp thụ hết đã góp phần làm cân bằng lại hệ sinh thái trong đất. Nhờ đó, bà con nông dân không những giảm được các chi phí đầu vào mà còn gia tăng thu nhập, ổn định đời sống, xây dựng thương hiệu sản phẩm.


 

Hải Hậu
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
55.150
55.650
Vàng nhẫn
52.900
53.500
Vàng nhẫn
52.900
53.600
Tỷ giá