Thứ bảy, 23/01/2021 (GMT+7)
Giá nông sản
Lâm Đồng: Hiệu quả mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
10:15 - 22/09/2020
(Cổng ĐT HND) - Lâm Đồng có khoảng 300.000 ha đất sản xuất nông nghiệp. 
Diện tích cây trồng chất lượng cao và sạch bệnh được phát triển mạnh tại địa phương



Hiện, tổng diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh đạt 54.477 ha; doanh thu bình quân sản xuất nông nghiệp trên đơn vị diện tích toàn tỉnh đạt bình quân 169 triệu đồng/ha.


Trong đó: Diện tích rau ứng dụng công nghệ cao đạt từ 400 - 500 triệu đồng/ha/năm; hoa đạt từ 800 triệu - 1,2 tỷ đồng/ha/năm (đặc biệt, có một số mô hình sản xuất hoa đạt doanh thu từ 8-10 tỷ đồng/ha/năm); chè chất lượng cao đạt khoảng 250 triệu đồng/ha/năm; cà phê đạt khoảng 200 triệu đồng/ha/năm; toàn tỉnh hiện có khoảng 50 ha nuôi cá nước lạnh thương phẩm sản lượng đạt khoảng 1.000 tấn/năm.


Diện tích canh tác trong nhà kính đạt 4.500 ha, nhà lưới 1.222 ha, màng phủ nông nghiệp 10.951 ha, tưới tự động, bán tự động 28.057 ha và 50 ha canh tác thủy canh. Diện tích canh tác cây trồng ứng dụng công nghệ cảm biến tự động nhiệt độ, độ ẩm, CO2, quản lý dinh dưỡng trong canh tác đạt 194,7 ha.

 
Diện tích sản xuất ứng dụng công nghệ cao cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với sản xuất thông thường (năng suất bình quân cao hơn từ 30% - 50%).


Tỉnh xây dựng 125 chuỗi nông sản an toàn với sự tham gia của 157 doanh nghiệp, HTX và 13.000 hộ nông dân tham gia, diện tích sản xuất theo chuỗi đạt khoảng 14.400 ha; có 267 doanh nghiệp, HTX, hộ nông dân được chứng nhận sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP với diện tích 2.091 ha.


Ngoài ra, có khoảng 73.000 ha cà phê sản xuất theo tiêu chuẩn 4C, UTZ, Rainforet; 20 sản phẩm nông nghiệp được công nhận nhãn hiệu chứng nhận và 09 doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao (chiếm 32% số doanh nghiệp được công nhận của cả nước).


Tổ chức Jica (Nhật Bản) đã hỗ trợ tỉnh Lâm Đồng xây dựng và được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” với những sản phẩm chính, gồm: Rau, hoa, chè, cà phê Arabica và du lịch canh nông.


Trong quá trình sản xuất, bên cạnh những mô hình được hỗ trợ các điều kiện để ứng dụng công nghệ cao từng bước hướng tới phát triển bền vững, xây dựng quy trình sản xuất hiện đại, tiên tiến và hội nhập quốc tế đã hình thành những mô hình do các doanh nghiệp và người dân chủ động áp dụng KHKT, ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất.


Tại địa phương, nhiều nông hộ, chủ trang trại đã tự lập trình phần mềm quản lý cho trang trại, chăm sóc cây trồng tự động hóa nhằm tăng năng suất, chất lượng trên một đơn vị diện tích như: Anh Nguyễn Đức Huy - Giám đốc HTX Thủy canh Việt tại phường 9 – thành phố Đà Lạt; anh Nguyễn Định - Định Farm - phường 8;  anh Nguyễn Thanh Sang vườn lan Sang Còi.


Nhằm khuyến khích, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tỉnh đã ban hành Đề án hỗ trợ khởi nghiệp, kèm theo các chính sách hỗ trợ, trong đó có khởi nghiệp nông nghiệp thông minh, với mức hỗ trợ cho mỗi dự án 50% cho tư vấn dịch vụ đào tạo nguồn nhân lực, sỡ hữu trí tuệ; hỗ trợ 50% chi phí áp dụng khoa học công nghệ mới; hỗ trợ 3% lãi suất sau đầu tư (thời gian hỗ trợ tối đa 36 tháng kể từ khi các tổ chức tín dụng hoàn thành thủ tục vay); hỗ trợ vay vốn Quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, Quỹ phát triển KHCN, Quỹ khuyến công giúp nông dân phát triển sản xuất.


Thông qua thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là thu hút các doanh nghiệp đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, ứng dụng nông nghiệp thông minh vào sản xuất đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức và giúp người nông dân thay đổi tư duy, mạnh dạn đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng năng suất và giá trị hàng nông sản, góp phần tăng giá trị sử dụng đất, đồng thời giải quyết được nhiều việc làm và thực hiện hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới.


Các hoạt động nhập khẩu, lai tạo giống và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất giống nuôi cấy mô để tạo ra các nguồn giống chất lượng cao và sạch bệnh được phát triển mạnh.


Toàn tỉnh có 208 cơ sở gieo ươm cây giống rau, hoa, cây đặc sản trên vỉ xốp, với tổng số lượng cây giống sản xuất 10.590 triệu cây giống/năm, trong đó có 51 cơ sở áp dụng kỹ thuật nuôi cấy mô, hàng năm, cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước gần 65 triệu cây giống cấy mô các loại.


Lâm Đồng có trên 15 năm kinh nghiệm phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nên cơ sở vật chất, hạ tầng sản xuất cũng như trình độ canh tác, chăn nuôi của nông dân Lâm Đồng cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước.


Các doanh nghiệp, HTX, nông dân luôn sẵn sàng tiếp thu các công nghệ thông minh trong sản xuất, chăn nuôi và quản lý trang trại.


Có nhiều doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX, nông dân trong tỉnh có cơ hội tiếp cận, ứng dụng các công nghệ thông minh để phát triển liên kết sản xuất, mở rộng thị trường.


Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã ban hành các Đề án trọng tâm để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp thông minh của tỉnh như: Đề án “Xây dựng thành phố Đà Lạt trở thành thành phố thông minh”; “Đề án thí điểm xây dựng huyện Đơn Dương đạt nông thôn mới kiểu mẫu về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng thông minh giai đoạn 2019 - 2025” và Đề án “Thí điểm xây dựng mô hình làng đô thị xanh tại xã Xuân Thọ, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng”.


Điển hình như: Công ty Đà Lạt Hasfarm có 167 ha hoa ứng dụng công nghệ Hortimax Hà Lan; Công ty TNHH DVTM Trường Hoàng 06 ha ứng dụng công nghệ cảm biến nhập khẩu từ Đài Loan, Italia để canh tác hoa lan hồ điệp; Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông Nghiệp Đà Lạt (Tập Đoàn Lộc Trời) ứng dụng công nghệ Israel với quy mô 01 ha trong canh tác rau. Hiện nay, các doanh nghiệp Elcom, Mimozatek đang cải tiến công nghệ tích hợp cảm biến điều khiển tự động cho các doanh nghiệp, HTX và nông dân ứng dụng.


Hiện, một số trang trại, doanh nghiệp trong tỉnh đã sử dụng tinh phân biệt giới tính để phối giống cho bò sữa nhằm tạo ra trên 94% bê con sinh ra là bê cái để đẩy nhanh đàn bò sữa nền, cải tạo con giống, tăng năng suất và chất lượng sữa.


Chuồng trại được đầu tư xây dựng theo công nghệ hiện đại như hệ thống mái được áp dụng công nghệ chống nóng bằng tôn lạnh với lớp nguyên liệu cách nhiệt, hệ thống máng uống tự động; hệ thống quạt tự động dựa vào cảm ứng nhiệt độ và độ ẩm chuồng nuôi để làm mát trong chuồng tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với điều kiện phát triển chăn nuôi bò sữa.


Các mô hình này đã sử dụng máy liên hợp, phối trộn khẩu phần thức ăn hoàn chỉnh theo phương pháp TMR (Total mixing rotation), khẩu phần trộn tổng hợp gồm: cỏ tươi hoặc ủ, rỉ mật, khô dầu, đậu tương… nhằm đảm bảo giàu dinh dưỡng, cho sữa nhiều và chất lượng cao để tăng năng suất, chất lượng sữa; sử dụng robot đẩy thức ăn tự động tại các trại chăn nuôi bò sữa của Công ty Vinamilk để hạn chế công lao động và đảm bảo thức ăn thường xuyên cho vật nuôi.


 Người chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh đã sử dụng trên 95% máy vắt sữa thay cho việc dùng tay vắt sữa thủ công nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa.


Công ty Cổ phần sữa Đà Lạt và Công ty Cổ phần sữa Việt Nam sẽ sử dụng hệ thống vắt sữa rotary (hệ thống vắt sữa vòng tròn tự động và mỗi lần vắt sữa cho khoảng 100 con bò sữa).


Trang trại bò sữa của Công ty Vinamilk và Dalatmilk được xây dựng theo mô hình chuồng trại công nghiệp, mỗi con bò được gắn chíp điện tử kết nối với máy tính và điện thoại để theo dõi tình trạng ăn uống, nghỉ ngơi của con vật; tình hình sức khỏe, bệnh tật; phát hiện động dục và sản lượng sữa để kịp thời điều chỉnh chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý phù hợp.
 

Đối với chăn nuôi gà, lợn, mô hình của Công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam đã sử dụng chuồng lạnh nhằm chủ động điều khiển nhiệt độ phù hợp với sự thích nghi của vật nuôi mà không bị ảnh hưởng bởi tình hình thời tiết ở môi trường bên ngoài chuồng nuôi, giúp cho lợn, gà phát triển ổn định, tăng năng suất, sản lượng thịt trứng; đồng thời với công nghệ chuồng lạnh đã giảm mùi hôi, hạn chế ô nhiễm môi trường.


Trong lĩnh vực chế biến nông sản, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, toàn tỉnh có khoảng 33 đơn vị đã áp dụng công nghệ tem truy suất điện tử (mã QR code), gồm 18 HTX, 09 doanh nghiệp, 06 cơ sở.


 Về sản phẩm nông sản sử dụng tem truy suất chủ yếu là trên sản phẩm rau các loại với 16 cơ sở; chè 02 cơ sở; trái cây 04 cơ sở; lúa 02 cơ sở; dược liệu 02 cơ sở, macca 2 cơ sở; cà phê 03 cơ sở, yến sào 01 cơ sở, mật ong 01 cơ sở, có 1,525 triệu tem truy xuất đã phát hành.


Việc sử dụng tem truy xuất nguồn gốc góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp so với khi chưa sử dụng tem (tăng 15-20% sản lượng nông sản được tiêu thụ), từng bước giúp thay đổi nhận thức, tập quán canh tác nhỏ lẻ sang sản xuất liên kết tập trung; đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm trong nuôi trồng và sản xuất sản phẩm phải đảm bảo an toàn; giải quyết được tình trạng làm giả thương hiệu nông sản Lâm Đồng, kết nối được người thu mua, phân phối, tiêu thụ với người nuôi trồng qua đó tạo thuận lợi cho việc mở rộng thị trường của người sản xuất; được sự ủng hộ và đồng hành của các đơn vị thu mua, phân phối, bán lẻ như Coo-op mart, Big C, Aeon, Lotte mart, Vinmart ...


Với khoảng 844 cơ sở thu gom sơ chế rau các loại trong đó có khoảng 15% số cơ sở có quy mô sơ chế trên 1.000 tấn/năm, số còn lại là cơ sở nhỏ lẻ, quy mô dưới 1.000 tấn/ năm.


Hiện nay, chỉ có Trung tâm sau thu hoạch làm dịch vụ sơ chế nông sản cho người dân (chủ yếu là rau, quả) tại công ty TNHH SX TM NS Phong Thúy áp dụng nông nghiệp thông minh sử dụng máy rửa và phân loại cà chua dựa trên màu sắc và kích thước của cà chua.


Trong khâu chế biến nông sản chủ yếu được áp dụng tại khâu phân loại sản phẩm dựa trên màu sắc, các loại nguyên liệu được phân loại như trà, cà phê nhân, hạt điều. Máy tách màu được áp dụng chủ yếu tại các nhà máy có công suất lớn về chế biến trà, cà phê nhân xuất khẩu.


Thời gian tới, nhằm hỗ trợ nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ cao, hỗ trợ nông dân sản xuất nông nghiệp hiện đại, Nhà nước cần đồng bộ từ cơ chế, chính sách tới những nguồn lực cần thiết và trước hết là sự tiên phong của các doanh nghiệp, các HTX có đủ năng lực thực hiện, đồng thời cần sự mạnh dạn, tự tin của người nông dân để tham gia vào quá trình sản xuất ứng dụng hiệu quả thành tựu của công nghệ; nhân rộng các mô hình ứng dụng công nghệ cao hiệu quả, phù hợp với từng địa phương, đơn vị.


Đồng thời cần ưu tiên đầu tư đúng mức công tác nghiên cứu, đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp gắn với chú trọng công tác xúc tiến đầu tư và mở rộng thị trường nông nghiệp công nghệ cao, nhằm phát huy thế mạnh sản phẩm của các sản phẩm địa phương.


 

Vân Anh
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
Tỷ giá