Thứ tư, 13/11/2019 (GMT+7)
Giá nông sản
Báo cáo: Tình hình, kết quả nửa nhiệm kỳ (7/2013- 12/2015) thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI nhiệm kỳ (2013- 2018)
16:05 - 21/01/2016
   HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM         CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG              Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
                        *
          Số 125 -BC/HNDTW                       Hà Nội, ngày 18 tháng 01 năm 2016

 
BÁO CÁO
Tình hình, kết quả nửa nhiệm kỳ (7/2013- 12/2015) thực hiện
 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam
lần thứ VI nhiệm kỳ (2013- 2018)
 

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI họp từ ngày 30 tháng 6 đến ngày 03 tháng 7 năm 2013 tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội đã thông qua Nghị quyết về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ 2013 - 2018. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu chậm khắc phục; cùng với những khó khăn nội tại của kinh tế trong nước, chủ trương cắt, giảm đầu tư công, tiết kiệm chi tiêu; biến đổi khí hậu, thiên tai bão, lũ, hạn hán, dịch, bệnh, … đã gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn; sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hội và Hội Nông dân các cấp, cùng với sự nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ, hội viên nông dân cả nước, chúng ta đã giành được những kết quả quan trọng.
 
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM LẦN THỨ VI 
 
I- Tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn
1- Tình hình nông nghiệp
Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững, cùng với những chính sách khuyến khích hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế nông nghiệp do nông dân hợp tác với nhau để sản xuất, kinh doanh theo hướng hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã có hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản năm 2014 đạt  3,49%, năm 2015 đạt 2,36%; xuất khẩu nông sản tiếp tục đứng ở ngôi thứ cao trên thị trường quốc tế với nhiều mặt hàng chủ lực như thủy sản, cà phê, hạt tiêu, hạt điều... Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò là trụ đỡ, là nhân tố tạo sự ổn định cho phát triển đất nước, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

2- Tình hình nông dân, nông thôn
Nông dân phấn khởi trước nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, cải thiện đời sống nông dân nhất là Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi); Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ; chính sách tín dụng đối với phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; chính sách hỗ trợ xây dựng mô hình cánh đồng lớn; sửa đổi tiêu chí hộ nghèo theo hướng đa chiều, hỗ trợ giảm nghèo bền vững cho các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn... tạo cơ chế, chính sách để Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn đã đi nhanh vào cuộc sống, động viên đông đảo cán bộ, hội viên, nông dân quyết tâm thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Nông dân phấn khởi trước kết quả 5 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn được đầu tư và phát triển; bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, khang trang sạch, đẹp hơn; đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nông dân, nông thôn được cải thiện: Đến nay có 51,7% cư dân nông thôn có nhà kiên cố; 97,6% số hộ dùng điện sinh hoạt; 90,6% số hộ dùng nước hợp vệ sinh; tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn 8,2% (theo tiêu chí mới) giảm 6,6% so với năm 2012; thu nhập bình quân đầu người 24,492 triệu đồng/năm, tăng 1,8 lần so với năm 2012. Điều kiện ăn, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe ngày càng được Nhà nước quan tâm hơn. Trình độ dân trí được nâng lên và ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường; dân chủ được mở rộng, quyền làm chủ của nông dân được phát huy.

 Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết trong những năm qua cũng gặp nhiều khó khăn, bất cập
- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp triển khai thực hiện còn chậm, chưa đồng bộ, tăng trưởng không ổn định; nông dân thiếu và khó tiếp cận vốn, thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, kỹ năng sản xuất, về pháp luật và thị trường để đầu tư phục vụ sản xuất hàng hóa tập trung. Vấn đề tiêu thụ nông sản nhất là ở vùng chuyên canh vẫn gặp nhiều khó khăn; chính sách mua tạm trữ gạo, hỗ trợ tiêu thụ nông sản hàng hóa chưa mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, còn rơi vãi ở khâu trung gian, nằm ở các doanh nghiệp và tư thương; nông dân không tự quyết định được giá bán nông sản của mình làm ra, được mùa mất giá, mặt khác vẫn do thương lái quyết định nên vẫn bị ép giá.

- Nông dân lo lắng về tác động biến đổi khí hậu: hạn hán diễn ra rất gay gắt ở nhiều nơi, nhất là vùng duyên hải miền Trung, Tây Nguyên; mưa, lũ gây ngập lụt, sạt lở ở nhiều địa phương; hiện tượng nước biển ngày càng dâng cao và xâm nhập sâu vào đất liền...Tình trạng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn gia súc kém chất lượng vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ gây thiệt hại đến sản xuất; ô nhiễm môi trường từ các khu công nghiệp, các làng nghề, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp; ô nhiễm nguồn nước... còn diễn ra ở nhiều nơi nhưng việc xử lý, ngăn chặn còn hạn chế, gây bức xúc trong nhân dân ở nhiều địa phương.

- Một bộ phận nông dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; không muốn thoát ra khỏi hộ nghèo, xã nghèo, thậm chí có nơi còn luân phiên nhau làm hộ nghèo để được hưởng chính sách hỗ trợ. Một bộ phận nông dân không thiết tha, mặn mà với đồng ruộng vì sản xuất nông nghiệp hiệu quả thấp. Tình trạng nông dân bỏ ruộng, bỏ chăn nuôi để đi làm việc khác có thu nhập cao hơn còn diễn ra ở một số nơi.

- Việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới còn chậm, đời sống của nông dân nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn; sự phân hóa giàu nghèo ngày càng chênh lệch xa.

II- Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội VI Hội Nông dân Việt Nam.
Ngay sau Nghị quyết Đại hội VI được ban hành, Trung ương Hội đã xây dựng kế hoạch, tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt để quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội; in ấn, phát hành 13.000 cuốn Văn kiện Đại hội VI, 110.000 cuốn Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam, 10.000 cuốn tài liệu Hỏi đáp học tập Nghị quyết đến các Chi hội để tổ chức thực hiện. Các tỉnh, thành Hội đã xây dựng chương trình hành động, kế hoạch tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện và tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân, đẩy mạnh phong trào thi đua quyết tâm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân.

1- Công tác xây dựng Hội vững mạnh
a- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội (Khóa III) về công tác tư tưởng văn hóa; Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 19- NQ/HNDTW ngày 20/7/2014 về tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân trong tình hình mới.
Bình quân hàng năm các cấp Hội tổ chức tuyên truyền cho 23 triệu lượt hội viên, nông dân đạt 230% chỉ tiêu Đại hội. Nội dung tuyên truyền, vận động nông dân tập trung vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai 2013 (sửa đổi), phổ biến, nâng cao kiến thức về pháp luật, kinh tế, xã hội, an  ninh, quốc phòng; tuyên truyền các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, điển hình tiên tiến, phổ biến các tiến bộ khoa học, công nghệ; về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam... Hội Nông dân Việt Nam đã ra Tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc hạ đặt trái phép Giàn khoan Hải Dương 981-HD vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước ta; đồng thời, ban hành văn bản chỉ đạo, định hướng nội dung tuyên truyền trong toàn hệ thống Hội.

Hình thức tuyên truyền phong phú, thiết thực, hiệu quả: thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội nông dân, sinh hoạt Câu lạc bộ nông dân; phát hành bản tin, ra chuyên trang, chuyên mục và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; vận động toàn hệ thống Hội ủng hộ kinh phí để tu sửa, tôn tạo di tích lịch sử của Hội nhằm giáo dục truyền thống cách mạng của nông dân; phát động Cuộc vận động “Nông dân với Trường Sa”; tổ chức Hội thi tuyên truyền viên giỏi toàn quốc, các cuộc thi, hội thi ở cơ sở và các hoạt động xã hội gắn với đẩy mạnh thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”;
Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng; cổ vũ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân, từng bước khẳng định vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng và Nhà nước.

b- Công tác kiện toàn, củng cố xây dựng tổ chức Hội
Ngay sau Đại hội VI, Trung ương Hội đã tập trung xây dựng và ban hành: Quy chế hoạt động, Chương trình công tác toàn khoá của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khoá VI); Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Hội; Hướng dẫn chế độ sinh hoạt Hội, thu và sử dụng hội phí; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát; phân công nhiệm vụ của từng đồng chí Thường trực, uỷ viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội. Trên cơ sở sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/HNDTW, ngày 19/7/2010 Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Hội (Khóa V) về tiếp tục xây dựng tổ chức Hội Nông dân các cấp vững mạnh; Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Kết luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06- NQ/HNDTW, ngày 19/7/2010 của Ban Chấp hành Trung ương Hội (khóa V) về xây dựng tổ chức Hội Nông dân các cấp vững mạnh, giai đoạn 2015 - 2020.

Kịp thời bổ sung, kiện toàn đội ngũ cán bộ Hội các cấp sau Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2010- 2015; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã phối hợp với tỉnh, thành ủy để hiệp y, bổ sung 257 uỷ viên Ban Chấp hành; 65 ủy viên Ban Thường vụ Hội Nông dân các tỉnh, thành phố. Đồng thời, bổ sung 5 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội. Đến nay có 6.697 cán bộ chủ chốt Hội Nông dân cấp xã tham gia cấp ủy cơ sở (chiếm 63,5%); 556 cán bộ chủ chốt Hội Nông dân cấp huyện tham gia cấp ủy cấp huyện (chiếm 81,6%); 48 cán bộ chủ chốt Hội Nông dân cấp tỉnh tham gia cấp ủy cấp tỉnh (chiếm 76,2%). Xây dựng Hướng dẫn thực hiện Quy định 282-QĐ/TW ngày 01/4/2015 của Ban Bí thư trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, đảm bảo sự thống nhất trong cả nước.

Quan tâm đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi, tổ Hội theo hướng thiết thực hiệu quả gắn với sản xuất, nâng cao đời sống của hội viên thông qua hoạt động của các tổ, nhóm sản xuất theo ngành nghề, tổ tín dụng tiết kiệm, tổ hùn vốn làm nhà, tổ đoàn kết bám biển, các câu lạc bộ nông dân, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư....để tập hợp nông dân vào tổ chức Hội, đã kết nạp được 1.175.717 hội viên; nâng tổng số hội viên là 10.515.000 người và 8.763.150 hộ nông dân có hội viên chiếm 72,2% đạt  90% chỉ tiêu Đại Hội. 
Qua phân loại, đánh giá hàng năm số sơ sở Hội khá và vững mạnh đều đạt và vượt chỉ tiêu Đại hội đề ra: năm 2013 có 88,14% cơ sở Hội đạt khá và vững mạnh đạt 103,6% chỉ tiêu Đại hội; năm 2015 ước có 87,6% cơ sở Hội khá và vững mạnh đạt 103,05% chỉ tiêu Đại hội.
Hầu hết các chi hội từ nhiều nguồn và hình thức khác nhau đều xây dựng được Quỹ hội để hoạt động. Số chi hội xây dựng được Quỹ hội tăng từ 83,3% (năm 2013) lên 87,2% (năm 2015) đạt 87,2% chỉ tiêu Đại hội đề ra. Tỉ lệ hội viên tham gia sinh hoạt tăng từ 74,36% (năm 2013) lên 82,59% (2015) và nộp hội phí 67% (năm 2013) lên 86,69% (năm 2015). Tỉ lệ hội viên là đảng viên chiếm 8,1%.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội các cấp tiếp tục được quan tâm thực hiện. Trên cơ sở tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 1045/QĐ-TTg, ngày 07/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2015; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã xây dựng Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2016-2020, Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2045/QĐ-TTg ngày 20/11/2015. Trong nửa nhiệm kỳ qua, đã có gần 490 nghìn lượt cán bộ Hội các cấp được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị. Đến nay, trong hệ thống Hội đã có 45,63% Chủ tịch; 19,73 % Phó Chủ tịch Hội cơ sở có trình độ trung cấp chính trị; 32,67% Chủ tịch, 31,68% Phó Chủ tịch Hội cơ sở có trình độ sơ cấp chính trị; 69,5% cán bộ chuyên trách cấp tỉnh, 77,1% cán bộ chuyên trách cấp huyện (trong đó 81,7% Chủ tịch), 90,8% Chủ tịch và 81,9% Phó Chủ tịch Hội cơ sở, 76,7% chi hội trưởng được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội. Hầu hết cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp được tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ công tác hoà giải và kỹ năng tổ chức Câu lạc bộ nông dân với pháp luật.  

c- Công tác kiểm tra, giám sát
Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành Quy định công tác kiểm tra và kỷ luật của Hội Nông dân Việt Nam; Hướng dẫn thực hiện Quy chế giám sát và phản biện xã hội để chỉ đạo các cấp Hội thực hiện.  
Các cấp Hội thường xuyên quan tâm kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra; xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát; tổ chức 175.876 cuộc kiểm tra về thực hiện Điều lệ Hội, nghị quyết, chương trình công tác Hội, kiểm tra tình hình xây dựng và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân, Quỹ Hội và các chương trình, dự án do Hội quản lý, thực hiện. Qua kiểm tra đã kịp thời chấn chỉnh, khắc phục hạn chế, thiếu sót.

Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành Kế hoạch và các văn bản hướng dẫn các cấp Hội triển khai thực hiện; tiến hành phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội và cán bộ chuyên trách của Hội Nông dân 63 tỉnh, thành phố; ký kết Chương trình phối hợp giữa Hội Nông dân Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương về giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp giai đoạn 2014-2020. Phối hợp với Trung tâm Khảo nghiệm phân bón vùng Nam bộ tiến hành kiểm tra, giám sát chất lượng phân bón tại 95 công ty sản xuất phân bón tại 10 tỉnh, thành phố. Qua kiểm nghiệm có 68 công ty sản xuất phân bón hàm lượng đảm bảo như trên bao bì, 27 công ty sản xuất phân bón hàm lượng không đúng như ghi trên bao bì. Tham mưu giúp Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình tổ chức 6 đoàn giám sát thí điểm về chấp hành pháp luật trong lĩnh vực vật tư nông nghiệp. Qua giám sát nhận thấy: phân bón tổng hợp NPK, phân bón hữu cơ; thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi công nghiệp... hàm lượng không đúng như ghi trên bao bì sản phẩm còn khá phổ biến. Đồng thời, kiến nghị với các cấp chính quyền tăng cường chỉ đạo các cơ quan quản lý chuyên ngành về vật tư nông nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực vật tư nông nghiệp đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh và người sử dụng vật tư nông nghiệp.

d- Công tác thi đua- khen thưởng
Ban Thường vụ Trung ương Hội ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng của Hội Nông dân Việt Nam; ký Chương trình phối hợp giữa Trung ương Hội với Ban Thi đua, Khen thưởng Trung ương, các tỉnh, thành Hội ký chương trình phối hợp với Ban Thi đua, Khen thưởng của tỉnh, thành phố về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và phát hiện, biểu dương, khen thưởng các điển hình tiên tiến giai đoạn 2013- 2018. Các tỉnh, thành Hội tổ chức Hội nghị biểu dương nông dân điển hình tiên tiến giai đoạn 2010 - 2015 và Trung ương Hội tổ chức thành công Đại hội thi đua yêu nước và biểu dương “Nông dân điển hình tiên tiến” toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IV. Qua đó đã  kịp thời phát hiện, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới và an ninh, quốc phòng.

Công tác khen thưởng được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng có tác dụng thiết thực động viên gương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua. Chủ tịch nước đã tặng thưởng 41 Huân chương các loại; Chính phủ đã tặng 8 Cờ thi đua, Thủ tướng Chính phủ đã tặng 127 Bằng khen cho tập thể và cá nhân đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tặng 45 Cờ, 3.500 Bằng khen, 21.000 Kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam”; các cấp Hội đã tặng hàng chục nghìn Bằng khen cho tập thể và cá nhân có nhiều thành tích đóng góp cho công tác xây dựng Hội và phong trào nông dân.

2- Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước của nông dân, hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
a- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững
 Trung ương Hội ban hành Quy định số 944- QĐ/HNDTW ngày 4/9/2014  về tiêu chuẩn hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp, thay thế Quy định số 18- QĐ/HNDTW ngày 12/01/2011 của Ban Thường vụ Trung ương Hội về tiêu chuẩn hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp giai đoạn 2011-2016. Trung ương Hội 3 lần tổ chức Lễ tôn vinh và trao danh hiệu nông dân Việt Nam xuất sắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, có những phát minh sáng tạo áp dụng hiệu quả trong sản xuất, tích cực trong phong trào xây dựng nông thôn mới và bảo vệ an ninh tổ quốc. Các cấp Hội tích cực tuyên truyền, vận động nông dân không cam chịu đói nghèo, quyết tâm vươn lên làm giàu. Bình quân mỗi năm đã có trên 6,2  triệu hộ đăng ký, trong đó có 4,3 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp đạt 131,9% chỉ tiêu Đại hội.

Phong trào đã có bước chuyển biến về chất theo hướng hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, xây dựng nhiều mô hình kinh tế nông nghiệp ứng dụng khoa học kỹ thuật cao, trong đó đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại sản xuất theo tiêu chuẩn Việt GAP. Theo thống kê, tính đến năm 2015, cả nước có 27.114 trang trại; trong đó có 8.935 trang trại cây trồng hàng năm, 12.642 trang trại chăn nuôi, 4.644 trang trại nuôi trồng thủy sản... Thông qua các mô hình sản xuất, kinh doanh đã dần hình thành cách thức liên kết sản xuất trong nông dân, nông thôn, như: Tổ liên kết sản xuất bưởi da xanh theo tiêu chuẩn Việt GAP ở Chợ Lách, Bến Tre; tổ liên kết trồng xoài theo tiêu chuẩn Việt GAP ở Cao Lãnh, Đồng Tháp; mô hình nông dân liên kết cùng nhau làm du lịch sinh thái …

Cùng với thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi; cán bộ, hội viên, nông dân còn đóng góp 870 tỷ đồng cho Quỹ “Ngày vì người nghèo”, tích cực phổ biến kinh nghiệm làm ăn, cho mượn vốn, cung cấp giống cây, con, tạo việc làm tại chỗ cho gần 135.700 hộ nông dân nghèo, với số tiền hàng trăm tỷ đồng và nhiều vật tư nông nghiệp khác trị giá hàng chục tỷ đồng. 

b- Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động; Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết về tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020. Thông qua Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới (theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố): nông dân đã hiến trên 30 triệu m2 đất, đóng góp hàng ngàn tỷ đồng, gần 27 triệu ngày công để làm mới và sửa chữa trên 1,1 triệu km đường giao thông nông thôn và gần 1 triệu km kênh mương nội đồng và hàng ngàn nhà văn hóa thôn, ấp, bản; nhiều tỉnh, thành Hội có cách làm sáng tạo đăng ký với cấp ủy, chính quyền tham gia thực hiện một số tiêu chí cụ thể đã góp phần tích cực vào Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới: đến ngày 31/12/2015 cả nước đã có 1.478 xã đạt chuẩn nông thôn mới chiếm 16,5%; bình quân mỗi xã đạt 12,9 tiêu chí; có 15 huyện, thị xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Tại Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX, Hội Nông dân Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất vì đã có thành tích trong Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.

Các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân xây dựng “gia đình văn hóa”; tham gia xây dựng “thôn, ấp, bản, làng, xã văn hóa”; thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội, bảo vệ môi trường nông thôn, phòng chống các tệ nạn xã hội. Hàng năm có 9,5 triệu hộ nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá, trong đó có 8,5 triệu hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá, đạt 109,9% chỉ tiêu Đại hội.

Trung ương Hội ban hành Nghị quyết số 20 -NQ/HNDTW ngày 21 tháng 7 năm 2014 về việc Hội Nông dân Việt Nam tham gia bảo vệ môi trường nông thôn và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Hàng năm tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng nghiệp vụ về công tác bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu cho gần 5.000 lượt cán bộ, hội viên nông dân; xây dựng 46 mô hình điểm về nước sạch và bảo vệ môi trường nông thôn ở những xã điểm xây dựng nông thôn mới. Các cấp Hội xây dựng được trên 11.000 mô hình bảo vệ môi trường nông thôn góp phần thực hiện tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới và phát triển bền vững.

c- Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh
Ban Thường vụ Trung ương Hội đã chỉ đạo các cấp Hội tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 25 -NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo. Phối hợp với Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến hành tổng kết Chương trình phối hợp giai đoạn 2010- 2015; phối hợp với ngành Công an tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc giai đoạn 2005-2015 và 5 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2010-2015; tiếp tục ký Chương trình phối hợp giai đoạn 2016-2020. Thực hiện Dự án phát triển cộng đồng các dân tộc ít người ở miền Bắc, đã tổ chức 633 lớp tập huấn cho 21.645 nông dân người dân tộc thiểu số những kiến thức về phát triển kinh tế, thành lập 183 nhóm nông dân cùng sở thích.

Các cấp Hội đã phối hợp với ngành Công an, Quân đội đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Vận động hội viên, nông dân nghiêm chỉnh chấp hành Luật Nghĩa vụ quân sự, tham gia lực lượng Dân quân tự vệ; tham gia các phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, các tổ tự quản, tổ liên gia hòa giải ở thôn xóm, phát hiện và tố giác tội phạm, đã cung cấp hàng ngàn tin cho cơ quan Công an; cảm hóa giáo dục hàng ngàn người lầm lỗi, vận động hàng trăm tội phạm đầu thú, tự báo; xoá hàng trăm tụ điểm phức tạp… Tại các địa bàn nơi biên giới, hải đảo Hội Nông dân các cấp đã vận động cán bộ, hội viên, nông dân tham gia bảo vệ đường biên, mốc biên giới, xây dựng “Điểm sáng vùng biên”, chống di cư trái phép… tích cực bám biển vừa sản xuất gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.  

3- Thực hiện Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Trung ương Hội đã tham mưu giúp Ban Chỉ đạo Đề án 61 Trung ương tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhim ca Hi Nông dân Vit Nam trong phát trin nông nghip, xây dng nông thôn mi và xây dng giai cp nông dân Vit Nam giai đon 2010-2020” (dưới đây viết tắt là Đề án 01). Trên cơ sở rà soát, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân; đề ra nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nội dung Kết luận 61-KL/TW của Ban Bí thư và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã ký nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp với các Bộ, ngành liên quan gồm: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Công Thương; Bộ Khoa học và Công nghệ.... 63 tỉnh, thành Hội đã ký 688 lượt chương trình, đề án, nghị quyết liên tịch với các sở, ngành của địa phương để thống nhất nội dung, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp thực hiện, kết quả bước đầu góp phần tích cực vào phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng nông thôn mới và củng cố quốc phòng, an ninh ở địa phương.

Thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 61 Trung ương, các tỉnh, thành ủy đã tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Đề án; quan tâm bố trí mặt bằng xây dựng các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân, bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân, khuyến khích vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ Quỹ Hỗ trợ nông dân địa phương bằng nhiều hình thức; chỉ đạo các cấp, các ngành ký chương trình phối hợp với Hội Nông dân cùng cấp trong việc triển khai thực hiện các chương trình, đề án phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đến nay 52 tỉnh, thành phố đã bố trí mặt bằng xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; 35 tỉnh, thành phố được đầu tư xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; đã có 10 dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng góp phần tích cực vào công tác dạy nghề và hỗ trợ nông dân.

Về triển khai Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân”. Đến nay, đã kiện toàn lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ nông dân ở 03 cấp: trung ương, tỉnh, huyện. Đến 30/11/2015 có 100% đơn vị Hội Nông dân cấp tỉnh kiện toàn Ban Điều hành Quỹ cấp tỉnh, có kế toán, thủ quỹ và cán bộ nghiệp vụ chuyên trách; Ban Điều hành Quỹ Hỗ trợ nông dân của 58 tỉnh, thành Hội đã có con dấu riêng; 59 tỉnh, thành Hội đã thành lập Ban Kiểm soát theo Điều lệ của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến ngày 20/12/2015, Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp Hội đạt 2.026,961 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 15,76% /năm đạt 105,1% chỉ tiêu Đại hội đề ra; trong đó Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương: 569,180 tỷ đồng, Quỹ Hỗ trợ nông dân địa phương: 1.457,781 tỷ đồng. Từ nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp Hội đã xây dựng được 2.807 mô hình kinh tế hợp tác, liên kết (tổ, nhóm) sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm. Đây là một trong các nội dung hoạt động rất hiệu quả, thu hút nhiều nông dân vào tổ chức Hội; nhiều hộ nông dân được hỗ trợ vốn đã thoát nghèo, nhiều hộ vươn lên khá giàu, nhiều hộ trở thành hộ sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

4- Kết quả các hoạt động dạy nghề, tư vấn hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất; tham gia vận động, hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn
a- Về công tác tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn 
Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Các cấp Hội đã tổ chức tuyên truyền, vận động trên 6 triệu lượt hội viên, nông dân tham gia học nghề. Hàng năm phối hợp và trực tiếp dạy nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên được 232.275 lượt người, đạt 109,1% chỉ tiêu Đại hội.
Sau khi tổ chức dạy nghề, các cấp Hội tích cực tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm, tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông dân về vật tư, phân bón, máy nông nghiệp. Tỷ lệ nông dân sau khi học nghề có việc làm và thu nhập ổn định đạt trên 90%, nhiều nông dân đã mạnh dạn đầu tư vốn, mở mang ngành nghề mới, củng cố các nghề truyền thống, đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng lớn; tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm hàng hóa, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân.

b- Dịch vụ về vốn và cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp
Các cấp Hội đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách - Xã hội thực hiện ủy thác cho các hộ nghèo và đối tượng chính sách vay vốn; tính đến ngày 31/12/2015, các cấp Hội đang quản lý 63.271 tổ tiết kiệm và vay vốn với 2.252.556 thành viên; dư nợ là 46.390 tỷ đồng, nợ quá hạn là 148 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,32% so với tổng dư nợ. Thực hiện Thỏa thuận liên ngành số 799/TTLN với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; dư nợ qua tổ chức Hội đạt 23.510,073 tỷ đồng (nợ quá hạn 0,49%) cho 589.925 hộ vay của 23.933 Tổ vay vốn, đã giúp cho nông dân có vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống.
Đồng thời, tích cực phối hợp với các doanh nghiệp, công ty cung ứng trên 1.500.000 tấn vật tư nông nghiệp, phân bón, thức ăn chăn nuôi và trên 4.500 máy nông nghiệp... theo phương thức trả chậm, trị giá hàng trăm tỷ đồng giúp cho nông dân có điều kiện sản xuất, kinh doanh.

c- Hỗ trợ nông dân tiếp cận với khoa học kỹ thuật 
Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan chuyên môn, các doanh nghiệp ở địa phương tổ chức tập huấn, khuyến nông được trên 10 triệu lượt hội viên, nông dân. Xây dựng hàng ngàn mô hình trình diễn sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và hàng trăm mô hình sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn Việt GAP.
Các cấp Hội đã phối hợp với các công ty tổ chức hàng ngàn lớp tập huấn cho nông dân về kỹ thuật sử dụng phân bón, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp... Xây dựng “Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông”, “điểm truy cập Internet”; mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản. Phối hợp với các nhà khoa học, các trung tâm nghiên cứu chuyển giao hàng trăm tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp và hơn 300 mô hình ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân tại các xã, phường dưới hình thức các Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông.

 Tổ chức 2 Cuộc thi tôn vinh Nhà nông sáng tạo, đã có hàng trăm sáng kiến, giải pháp kỹ thuật của nông dân được giải thưởng và ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất như: máy làm đất, máy gieo hạt, máy tưới cây, máy bón phân, máy phun thuốc trừ sâu, máy bóc lạc, máy tẽ ngô, máy sấy hạt... đã trang bị cho nông dân kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới để áp dụng vào sản xuất, kinh doanh.
Phối hợp với các tập đoàn của Mỹ chuyển giao ứng dụng chế phẩm sinh học trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản theo hướng an toàn sinh học tại 22 tỉnh, thành phố; phối hợp với Tập đoàn Ku-me Hi-ri-ô (Kume Hiryo) Nhật Bản thực hiện mô hình sản xuất và bao tiêu sản phẩm rau xà lách an toàn tại tỉnh Sơn La.

d- Dịch vụ hỗ trợ thông tin và xây dựng thương hiệu sản phẩm
Phối hợp với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kết nối thông tin giá cả vật tư nông nghiệp, hàng hóa nông sản, tình hình dịch, bệnh cây trồng, vật nuôi, qua đó góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, kỹ năng sản xuất cho cán bộ, hội viên, nông dân và chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp.
Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí và các ngành chức năng mở “Chuyên mục chuyện Nhà nông” phát trên kênh VTV1 từ 5h48 - 6h00 hàng ngày, đã giúp nông dân nắm bắt kịp thời thông tin về thị trường, khoa học kỹ thuật, những mô hình sản xuất nông nghiệp điển hình.
Hàng năm thông qua các hoạt động phối hợp với các doanh nghiệp, công ty tổ chức Lễ tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu; tổ chức các Hội chợ triển lãm nông nghiệp, thương mại nhằm quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, tạo niềm tin đối với người tiêu dùng, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp.

e- Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể, hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
Trung ương Hội phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư mở các lớp bồi dưỡng cho 1.715 cán bộ Hợp tác xã, Tổ hợp tác tại 43 tỉnh, thành phố. Các tỉnh, thành Hội chủ động phối hợp với ngành liên quan trực tiếp tổ chức 3.900 lớp tập huấn kiến thức về kinh tế tập thể cho 127.970 lượt cán bộ Hội.
Các cấp Hội đã vận động thành lập được trên 9.400 mô hình kinh tế tập thể trong các lĩnh vực: thủy nông, làm đất, bảo vệ thực vật, thu hoạch, cung ứng vật tư, chăn nuôi, chế biến, tiêu thụ nông sản và các lĩnh vực chuyên ngành theo sở thích... đạt 89,6 % chỉ tiêu Đại hội.
 Phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện Quyết định số 23/QĐ-TTg, ngày 6/1/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010- 2015 và định hướng đến năm 2020; đã triển khai xây dựng mô hình thí điểm cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, gắn với tiêu thụ nông sản ở 12 tỉnh, thành phố.  

5- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc 
Các cấp Hội đã tích cực vận động cán bộ, hội viên, nông dân nêu cao trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; góp ý đối với cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tham gia thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở; kịp thời phản ánh với các cấp uỷ, chính quyền về những bức xúc và nguyện vọng của nông dân.

Thực hiện Quyết định số 218 và Quyết định số 217, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị; hàng năm Trung ương Hội đã ban hành Kế hoạch về việc tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; phản biện các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật như: Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi), Bộ Luật dân sự ( sửa đổi), Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và thông tư, hướng dẫn của các bộ, ngành  liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Các cấp Hội đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; tích cực vận động hội viên, nông dân tham gia góp ý kiến vào văn kiện và nhân sự Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015- 2020, tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng; đồng thời bồi dưỡng, giới thiệu trên 13 ngàn hội viên ưu tú học lớp đối tượng Đảng, trong đó có 9.589 hội viên được kết nạp vào Đảng.

Thực hiện Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành Kế hoạch và tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện trong hệ thống Hội; ký Quy chế phối hợp với Thanh tra Chính phủ trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân. Thực hiện Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ (nay là Quyết định 81) hàng năm các cấp Hội đã tham gia giải quyết trên 22 nghìn đơn, thư khiếu nại, tố cáo nội bộ nông dân; tham gia hòa giải hàng trăm ngàn vụ mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nông dân tại cơ sở, hạn chế khiếu kiện kéo dài, vượt cấp, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

6- Tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Trong quá trình xây dựng và thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến nông nghiệp, nông dân, các cơ quan chủ trì đã chủ động phối hợp, tạo điều kiện để Hội Nông dân Việt Nam tham gia đóng góp ý kiến. Điển hình như việc Hội đã tham gia góp ý xây dựng: Chính sách bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo vệ môi trường; chính sách đất đai; chính sách kinh doanh, xuất khẩu gạo...; sửa đổi các thủ tục cho vay vốn theo Quyết định số 497/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; sửa đổi, bổ sung Nghị định số 41/NĐ-CP của Chính phủ thành Nghị định 55/2015/NĐ-CP, ngày 9/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; theo đó đã bổ sung mở rộng đối tượng được vay vốn, nâng mức cho vay và thời hạn vay vốn...; bổ sung, chỉnh sửa Nghị định số 61/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; đề xuất có cơ chế, chính sách đặc thù giúp ngư dân bám biển sản xuất và bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Đặc biệt, các cấp Hội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, dự thảo Luật Hợp tác xã, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự...

 Các cấp Hội đã tổ chức cho hội viên, nông dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các đề án, chương trình phát triển kinh tế-  xã hội ở địa phương, quy hoạch đất đai, xây dựng nông thôn mới và tham gia giám sát việc thực hiện các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; dự án đầu tư, phương án đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư; giải quyết việc làm khi bị thu hồi đất và các khoản đóng góp của nhân dân nhất là trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.

7- Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế
Hoạt động đối ngoại được củng cố và tăng cường, chuyển từ quan hệ hữu nghị sang quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi. Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết về đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Chương trình xúc tiến vận động viện trợ nước ngoài giai đoạn 2014- 2020; Chương trình tổ chức cho cán bộ, hội viên, nông dân đi nghiên cứu, học tập, trao đổi kinh nghiệm và quảng bá nông sản hàng hóa ở ngoài nước; ký 7 thỏa thuận hợp tác dài hạn với các đối tác và nhà tài trợ. Mở rộng quan hệ hợp tác với 13 đối tác mới.

Các cấp Hội tích cực triển khai Chương trình xúc tiến vận động viện trợ nước ngoài của Hội giai đoạn 2014 - 2020, đã vận động tài trợ đạt trên 150 tỉ đồng; trong đó Trung ương Hội vận động được trên 60 tỷ đồng để thực hiện các chương trình, dự án. Một số tỉnh, thành Hội vận động được nguồn tài trợ lớn là Hòa Bình, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Tĩnh. Một số tỉnh, thành Hội vận động được nguồn tài trợ lớn là Hòa Bình 8 tỷ, Tuyên Quang 4 tỷ, Hà Tĩnh 3 tỷ. Đến nay có 15 tỉnh, thành Hội xây dựng Đề án đưa cán bộ, hội viên nông dân đi nghiên cứu, học tập ở nước ngoài; có 42 tỉnh, thành Hội tham gia các dự án quốc tế; 18 tỉnh, thành Hội xây dựng chương trình, kế hoạch vận động viện trợ không hoàn lại góp phần hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống và nâng cao năng lực cán bộ Hội.

Các cấp Hội đã tổ chức đón tiếp 216 đoàn khách quốc tế, trong đó Trung ương Hội đón 138 đoàn vào thăm, làm việc với Hội và tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế do Hội đăng cai tổ chức; đăng cai 10 hội nghị, hội thảo khu vực và tham dự 125 hội nghị, hội thảo, tập huấn quốc tế tổ chức tại Việt Nam. Tổ chức 136 đoàn ra với 415 lượt cán bộ, hội viên, nông dân đi dự hội nghị, hội thảo, nghiên cứu, học tập ở nước ngoài, đặc biệt lần đầu tiên Hội tổ chức đưa nông dân đi học nghề trực tiếp tại các trang trại của Cộng hòa Liên bang Đức.

III- Đánh giá chung
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI, các cấp Hội đã tích cực, chủ động, sáng tạo đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân. Các chỉ tiêu công tác Hội và phong trào nông dân hàng năm cơ bản đạt và vượt so với mục tiêu Đại hội đề ra.

Trung ương Hội đã làm việc với đồng chí Chủ tịch nước và 2 lần làm việc với Thủ tướng Chính phủ để báo cáo về tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tại buổi làm việc Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao những kết quả của Hội Nông dân Việt Nam trong thực hiện Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; nhất trí với những đề xuất, kiến nghị của Hội Nông dân Việt Nam, giao cho các bộ, ngành, cấp ủy đảng, chính quyền phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam tham mưu triển khai thực hiện.

Các cấp Hội đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, phối hợp với các bộ, ngành trung ương, chính quyền địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án 01, Kết luận 61- KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã tạo nguồn lực to lớn để các cấp Hội tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp; đẩy mạnh 3 phong trào thi đua lớn của Hội, nhất là Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững tiếp tục phát triển cả bề rộng và chiều sâu, có sức lan tỏa, lôi cuốn, khích lệ hội viên, nông dân tích cực tham gia; Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, đã khẳng định vai trò chủ thể của nông dân.

Hội Nông dân các cấp ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Hội và chất lượng hội viên được nâng lên; công tác cán bộ có nhiều chuyển biến tiến bộ, trình độ năng lực cán bộ được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Công tác đối ngoại tiếp tục được mở rộng, huy động các nguồn lực hỗ trợ nông dân sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả thiết thực. Công tác kiểm tra, giám sát; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn pháp lý, hoạt động hoà giải, giải quyết đơn, thư khiếu nại tố cáo của cán bộ, hội viên, nông dân được tăng cường hơn. Vai trò đại diện của Hội trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên nông dân được phát huy.

Những kết quả của công tác Hội và phong trào nông dân trong nửa nhiệm kỳ qua đã góp phần giữ vững nhịp độ phát triển nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đạt được những kết quả trên là có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hội và Hội Nông dân các cấp cùng với sự nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ, hội viên nông dân cả nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác Hội và phong trào nông dân trong những năm qua còn một số yếu kém, hạn chế, đó là
- Công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng cho nông dân có nơi còn hạn chế, chưa làm chuyển biến nhận thức của một bộ phận hội viên nông dân về chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, một số nơi nông dân còn bị lôi kéo tụ tập đông người, tham gia khiếu kiện đông người kéo dài, vượt cấp, gây mất an ninh trật tự tại một số địa phương. Việc tuyên truyền về Đề án 01, Kết luận số 61- KL/TW và Quyết định số 673/QĐ- TTg chưa sâu rộng, nhất là cấp huyện và cấp xã.

- Một số tỉnh, thành Hội chưa chủ động, chưa quyết liệt tham mưu cho cấp ủy, phối hợp với chính quyền địa phương để triển khai thực hiện Đề án 01, Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư và Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ nên còn thiếu nguồn lực hoạt động nhất là bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Còn 8 tỉnh, thành phố: Gia Lai, Kon Tum, Đồng Nai, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Phú Yên, An Giang chưa cấp ngân sách địa phương cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Còn 10 tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Đà Nẵng, Gia Lai, Khánh Hòa, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Bến Tre, Tây Ninh, Bà Rịa- Vũng Tàu chưa bố trí mặt bằng xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân.

- Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất còn yếu, hiệu quả kinh tế chưa cao. Công tác tham mưu đề xuất về cơ chế, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn hạn chế, chưa kịp thời. Chất lượng xây dựng nông thôn mới còn hạn chế, chưa bền vững, nhất là đời sống người nông dân.
- Công tác xây dựng tổ chức Hội còn một số bất cập; trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
- Một số nơi việc hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn, việc xây dựng và nhân rộng các mô hình kinh tế tập thể, mô hình Hội Nông dân tham gia bảo vệ môi trường nông thôn, văn hoá, xã hội trong nông thôn, hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân hiệu quả chưa cao.
- Còn 3 chỉ tiêu chưa đạt đó là: Chỉ tiêu số hộ nông dân có hội viên nông dân đạt 90% chỉ tiêu Đại Hội; chỉ tiêu số chi Hội có Quỹ Hội đạt 87,2% chỉ tiêu Đại Hội và chỉ tiêu về xây dựng mô hình kinh tế Hợp tác xã  đạt 89,6 % chỉ tiêu Đại hội.
 
Phần thứ hai
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP ĐẾN HẾT NHIỆM KỲ
THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI VI
 
Giai đoạn từ nay đến hết nhiệm kỳ (2016- 2018) thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI có nhiều thuận lợi, kinh tế từng bước ra khỏi tình trạng suy giảm, lấy lại đà tăng trưởng; nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc, nợ công, nợ xấu vẫn còn ở mức cao; thời tiết, dịch bệnh và biến đổi khí hậu còn diễn biến phức tạp... đó là những yếu tố tác động không nhỏ đến quá trình thực hiện Nghị quyết.

Căn cứ vào tình hình thực tiễn và những thuận lợi khó khăn, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI đề ra; Ban Chấp hành Trung ương Hội xác định nhiệm vụ và giải pháp từ nay đến hết nhiệm kỳ như sau:
I- Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, hội viên và nông dân
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19- NQ/HNDTW ngày 20/7/2014 về tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân trong tình hình mới; trọng tâm là tuyên truyền vận động nông dân thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhất là chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 gắn với tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; tổ chức Hội thi “Nhà nông đua tài” toàn quốc lần thứ IV nhằm cổ vũ, khích lệ, động viên cán bộ, hội viên nông dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới…  Chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của nông dân, kịp thời kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân.

II- Tập trung xây dựng củng cố tổ chức Hội vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ công tác Hội trong tình hình mới
Tập trung rà soát, củng cố, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của tổ chức Hội các cấp, xây dựng và phát triển các chi Hội nghề nghiệp gắn với phát triển và nâng cao chất lượng hội viên. Hướng dẫn các cấp Hội về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện theo Quy định số 282 - QĐ/TW, ngày 01/4/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Kiện toàn đội ngũ cán bộ Hội các cấp sau bầu cử HĐND các cấp và bầu cử Quốc hội khóa XIV. Chỉ đạo các cấp Hội chuẩn bị tốt các điều kiện, quy trình để tổ chức thành công đại hội Hội Nông dân các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII.
Thực hiện có hiệu quả Quyết định số 2045/QĐ- TTg, ngày 20/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020”. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ cơ sở và các chi, tổ Hội, cán bộ nữ, cán bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; Điều lệ và nghị quyết của Hội. Tích cực phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành ở trung ương và các sở, ngành ở địa phương để giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp.

III- Chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở đó, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về Đề án số 01, Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống Hội.
Chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương đề xuất cấp ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp và bố trí mặt bằng, kinh phí đầu tư xây dựng các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân các tỉnh, thành phố. Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện Đề án 01, Kết luận 61 và Quyết định 673 tại các địa phương, nhằm tạo nguồn lực và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các cấp Hội.  Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân và khai thác các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân hiệu quả, giúp nông dân phát triển sản xuất và nâng cao đời sống.
Hoàn thành xây dựng Đề án “Mẫu người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn” để triển khai thực hiện.

IV- Tiếp tục nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh; hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, gắn với đẩy mạnh 3 phong trào thi đua của Hội
Phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư; tập huấn chuyển giao quy trình kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng các mô hình trình diễn để hội viên, nông dân áp dụng vào sản xuất; cung cấp thông tin thị trường, cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp, xây dựng thương hiệu sản phẩm. Tăng cường hợp tác, liên kết với các cơ sở nghiên cứu, các nhà khoa học, các doanh nghiệp… giúp hội viên, nông dân nâng quy mô sản xuất và xây dựng các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác, liên kết sản xuất, kinh doanh; tham gia thực hiện các chương trình, dự án sản xuất ra sản phẩm chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường nông thôn; phát triển các mô hình cánh đồng lớn nhằm tăng nhanh thu nhập cho nông dân.
Nâng cao hơn nữa chất lượng 3 phong trào thi đua của Hội; chỉ đạo tốt việc tổng kết Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững. Đồng thời, tích cực xây dựng, phát hiện và nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi ở nông thôn; hướng dẫn nông dân liên kết, hợp tác trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh gắn với vận động cán bộ, hội viên, nông dân tích cực hưởng ứng tham gia Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động.

V- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Tổ chức cho hội viên, nông dân lựa chọn nội dung, công việc phù hợp để  tham gia giám sát và phản biện xã hội; tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định 217 và Quyết định 218 của Bộ Chính trị. Tích cực phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành ở trung ương và các sở, ngành ở địa phương để giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp. Bồi dưỡng giới thiệu cán bộ, hội viên ưu tú với chi bộ Đảng để xem xét phát triển đảng viên mới.
Chỉ đạo các cấp Hội tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp với các cấp Hội Nông dân Việt Nam trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân.

VI- Tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu, rà soát các cơ chế, chính sách còn bất cập, tham gia có trách nhiệm với các bộ, ngành trung ương và các sở, ngành địa phương trong việc xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn để đề xuất với Chính phủ, Quốc Hội chỉ đạo việc bổ sung, sửa đổi và xây dựng mới chính sách, pháp luật liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
 Chủ động phối hợp với các bộ, ngành và các cơ quan ở trung ương và địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, nghị quyết liên tịch đã ký; trước mắt, thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát việc thực hiện pháp luật sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp.

VII- Đẩy mạnh và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế
Tích cực mở rộng và đa dạng hóa quan hệ hữu nghị và hợp tác, nhất là với các đối tác lớn, có tiềm năng hợp tác lâu dài; chủ động phối hợp với các bộ, ngành và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp Hội trong việc triển khai các hoạt động đối ngoại với trọng tâm là vận động viện trợ và tổ chức cho cán bộ, hội viên đi nghiên cứu, học tập, trao đổi kinh nghiệm và quảng bá nông sản hàng hóa ở nước ngoài.
Phát huy những kết quả đã đạt được trong nửa nhiệm kỳ qua và truyền thống đoàn kết, cán bộ, hội viên nông dân cả nước quyết tâm thi đua, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2013- 2018, góp phần cùng nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII  của Đảng.
 
Nơi nhận:
- Ban Bí thư  T.Ư Đảng (để B/c)
- Ban Dân vận Trung ương,
- Ban Tổ chức Trung ương Đảng,
- BanTuyên giáo Trung ương Đảng,
- Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng
- UB TW MTTQ Việt Nam,
- Văn phòng Trung ương Đảng,
- Các đ/c Uỷ viên BCH T.Ư Hội,
- Các tỉnh, thành Hội,
- Các ban, đơn vị TƯ Hội,              
- Lưu.
       T/M BAN CHẤP HÀNH
              CHỦ TỊCH
 
                (Đã ký)
 



      Nguyễn Quốc Cường
 

Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
41.100
41.360
Vàng nhẫn
41.070
41.520
Vàng nhẫn
41.070
41.620
Tỷ giá
EUR
26165.13
GBP
29948.81
USD
23260