Thứ tư, 13/11/2019 (GMT+7)
Giá nông sản
Báo cáo: Tổng kết thực hiện Chương trình phối hợp số 3127/CTPH-HND-BVHTTDL ngày 18/9/2009 giữa Hội Nông dân Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch giai đoạn 2009-2014
16:54 - 16/09/2015
TRUNG ƯƠNG HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
 BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH               

 
     Số:  03 BC/HNDVN-BVHTTDL
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
              Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 
        Hà Nội, ngày 28 tháng 7  năm 2015
 
 
 
BÁO CÁO
Tổng kết thực hiện Chương trình phối hợp số 3127/CTPH-HND-BVHTTDL ngày 18/9/2009 giữa Hội Nông dân Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch giai đoạn 2009-2014
 
 
Thực hiện phương hướng, nhiệm vụ chương trình phối hợp hoạt động giữa Hội Nông dân Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, gia đình, thể dục thể thao và du lịch giai đoạn 2009 - 2014; qua 5 năm triển khai tổ chức thực hiện, trên cơ sở báo cáo của các tỉnh/thành Hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành và thực tế theo dõi, chỉ đạo hoạt động ở các đơn vị, địa phương trong cả nước, Hội Nông dân Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đánh giá kết quả phối hợp hoạt động giai đoạn 2009 - 2014 và dự kiến Chương trình phối hợp giai đoạn tiếp theo như sau:

I. CÔNG TÁC PHỐI HỢP, CHỈ ĐẠO      
Thực hiện chương trình phối hợp số 3127/CTPH-HND-BVHTTDL ngày 18/9/2009 và Kế hoạch số 960/KHPH-HNDVN-BVHTTDL ngày 22/12/2011 giữa Hội Nông dân Việt Nam với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Về cơ bản Hội Nông dân Việt Nam, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã thực hiện tốt các nội dung, chương trình phối hợp, cùng chỉ đạo Hội Nông dân và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành thống nhất ký kết Chương trình phối hợp về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa văn nghệ, gia đình, thể dục thể thao và du lịch giai đoạn 2010-2015, xây dựng Kế hoạch phối hợp chỉ đạo và tổ chức các hoạt động về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 2012-2015. Tổ chức hội nghị triển khai Chương trình phối hợp tới các cấp Hội và hệ thống Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên phạm vi toàn quốc.

Chỉ đạo các cấp Hội Nông dân trong cả nước lồng ghép nội dung Chương trình phối hợp với việc thực hiện Quyết định số 22/QĐ-TTg ngày 5/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Phát triển văn hoá nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”; Nghị quyết số 05-NQ/HNDTW ngày 29/7/2011 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW Hội Nông dân Việt Nam (khóa V) về “Hội Nông dân tham gia thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020”. Cùng với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành TW Đảng (Khóa X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.

Theo báo cáo kết quả tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình phối hợp 3127/CTPH từ các tỉnh, thành phố cho thấy việc thực hiện chương trình khá nghiêm túc và thu được nhiều kết quả thiết thực cụ thể:
Hội Nông dân các tỉnh/thành đã tham mưu cho Cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện Quyết định 673-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc “Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn giai đoạn 2011 - 2020”.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố phối hợp với Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, thành ủy tham mưu cho Tỉnh ủy, Thành ủy Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc giai đoạn 1998-2013; ban hành Chương trình hành động của Tỉnh ủy, Thành ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”; triển khai thực hiện Thông báo số 26/TB-TW của Ban Bí thư Trung ương về Sơ kết Chỉ thị 49-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tham mưu UBND các tỉnh/thành ban hành các Quyết định phê duyệt Chương trình thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của tỉnh, thành đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Kế hoạch về phát triển văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Kế hoạch về việc phát triển Văn học nghệ thuật giai đoạn 2012 - 2015, định hướng đến năm 2020; Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển Gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Hầu hết các tỉnh/thành đã sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định 22/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phát triển văn hóa nông thôn; Chỉ đạo cấp huyện, quận, xã, phường kiện toàn Tiểu ban điều hành thực hiện Đề án 212 đưa thông tin pháp luật đến cán bộ, nhân dân và hội viên nông dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hóa cấp xã và cấp thôn. Triển khai thực hiện quy định mẫu tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm Văn hóa, Thể thao cấp xã, Nhà Văn hóa - Khu thể thao thôn; triển khai thực hiện “Đề án tuyên truyền giáo dục đạo đức lối sống trong gia đình Việt Nam giai đoạn 2010- 2020”; Hướng dẫn tổ chức hoạt động mô hình phòng chống bạo lực gia đình tại khu dân cư. Phối hợp chỉ đạo việc rà soát, đăng ký các danh hiệu xây dựng  “Gia đình Văn hóa”, “Làng, bản, xóm, thôn văn hóa ”, “Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới ”, thực hiện nội dung 02 tiêu chí: Cơ sở vật chất văn hóa (tiêu chí 06) và Văn hóa (tiêu chí 16), trong Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, thành phố.

Hai ngành luôn chú trọng gắn nội dung chương trình phối hợp với phong trào xây dựng “Gia đình văn hóa”; Làng, bản, thôn, xóm văn hóa và việc thực hiện Chỉ thị 03/CT-TW “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cùng với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo của địa phương. Chủ động phối hợp với cấp uỷ, chính quyền các cấp tổ chức kiểm tra đánh giá định kỳ, định hướng xây dựng, phát triển phong trào. Vì vậy, trong 5 năm qua, các hoạt động văn hóa văn nghệ, gia đình, thể dục thể thao và du lịch đã phát triển sôi nổi và rộng khắp trong đời sống nhân dân.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý Văn hóa và cán bộ Hội Nông dân luôn được quan tâm. Đối với ngành văn hóa, hàng năm có trên 80% Trưởng ban chỉ đạo Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Công chức văn hoá xã, được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ. Đối với Hội Nông dân, trong nhiệm kỳ đã có trên 83,5% cán bộ chuyên trách cấp huyện và Ban thường vụ Hội Nông dân cơ sở được tập huấn nghiệp vụ tại tỉnh, thành phố; 90% ủy viên Ban Chấp hành cơ sở và chi hội trưởng được tập huấn nghiệp vụ tại cấp huyện, quận. Thông qua tập huấn và hoạt động thực tiễn, năng lực liên kết và phối hợp hoạt động của đội ngũ cán bộ văn hóa và cán bộ Hội được nâng lên rõ rệt, được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đánh giá cao.

II. KẾT QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Công tác tuyên truyền, tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn
Thực hiện nội dung chương trình phối hợp và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của tổ chức Hội và của ngành. Hai bên tập trung tuyên truyền, phổ biến các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tuyên truyền triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Hội Nông dân các tỉnh, thành phố và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Dông dân Việt Nam lần thứ V (2008-2013) và lần thứ VI (2013- 2018). Tích cực tuyên truyền về thi hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng gia đình nông dân 6 chuẩn mực văn hóa… Tổ chức các cuộc tuyên truyền, phổ biến, vận động hội viên nông dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đã nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên về mục đích, ý nghĩa của chương trình, về vị trí, vai trò của tổ chức Hội trong công cuộc đổi mới đất nước.

Hai ngành đã chú trọng đổi mới các hình thức, nội dung tuyên truyền như: Tổ chức sinh hoạt chuyên đề, xây dựng các mô hình, tổ chức hội thi dưới hình thức sân khấu hóa, phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nội dung tuyên truyền giáo dục đời sống gia đình, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, giữ gìn cảnh quan môi trường nông thôn, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh… Hàng năm phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về du lịch cộng đồng cho người dân về ứng xử văn minh, cách thức làm dịch vụ ở các khu điểm du lịch và các cơ sở lưu trú du lịch; phát huy các nghề truyền thống nhằm phục vụ cho phát triển du lịch bền vững; nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng gia đình nông dân văn hóa. Tổ chức các đợt truyền thông bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc gắn với việc tổ chức các lễ hội truyền thống tại các địa phương, góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của quần chúng nhân dân và thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Hội Nông dân các tỉnh, thành phố phối hợp với Trung tâm tư vấn pháp luật nông dân - TW Hội Nông dân Việt Nam tổ chức thành công Hội thi “ Nông dân tìm hiểu pháp luật” dưới hình thức sân khấu hóa tại một số địa phương, cơ sở. Phát động tìm hiểu và gửi bài dự thi “Tìm hiểu Hội Nông dân Việt Nam 80 năm xây dựng và trưởng thành”, do Trung ương hội phát động, nhiều tỉnh, thành Hội đã đạt các giải cao về  tập thể và cá nhân. Tổ chức cuộc thi “Nông dân với an toàn giao thông”, Liên hoan “Tiếng hát đồng quê”. Đến nay, 90% cơ sở Hội và chi Hội trong cả nước có báo Nông thôn ngày nay, Tạp chí Nông thôn mới và Bản tin công tác Hội làm tài liệu phục vụ sinh hoạt chi Hội hàng quý; hướng dẫn chuyển giao KHKT cho hội viên, nông dân, tuyên truyền các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực, nâng cao chất lượng hoạt động của các Câu lạc bộ nông dân.

2. Kết quả thực hiện
2.1. Hoạt động văn hóa, văn nghệ
Các phong trào văn hóa, văn nghệ ngày càng phát triển rộng rãi trong từng thôn, xóm. Hàng ngàn nhóm, Câu lạc bộ văn nghệ như: các Câu lạc bộ thơ, Câu lạc bộ ca nhạc, Đờn ca tài tử, Quan họ, Dân ca Nghệ Tĩnh, các Chiếu Chèo… của những người yêu thơ và ca hát... được hình thành và duy trì tổ chức sinh hoạt thường xuyên. Hội Nông dân các cấp cùng ngành văn hóa đã tổ chức các cuộc thi như: Liên hoan “Tiếng hát đồng quê” (63/63 tỉnh/thành tham gia Liên hoan), hội thi “Nhà nông đua tài”, hội thi “Nông dân chung sức xây dựng Nông thôn mới”, giao lưu các Câu lạc bộ thơ, hát Chèo… Các tổ chức Hội Nông dân tích cực tham gia việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống tại địa phương. Nhiều địa phương đã thực hiện Đề án “Khôi phục và phát triển Nghệ thuật truyền thống”, Tiếng hát vành đai xanh, Tiếng hát đêm trăng rằm, Tiếng hát đồng quê được tổ chức thường niên, rộng khắp ở nhiều tỉnh, thành Hội. Nhiều tỉnh tổ chức Hội thi “Chi hội trưởng giỏi”, “Chủ nhiệm Câu lạc bộ Dân số & Phát triển”, “Câu lạc bộ pháp lý”,... Đây là những phong trào, hoạt động hết sức hiệu quả trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ của các tỉnh, thành Hội. Tổng hợp báo cáo của các tỉnh, thành Hội, hiện nay toàn quốc có khoảng 6.371 đội văn nghệ xã, 20.134 câu lạc bộ văn hóa thôn, bản, 7.779 các câu lạc bộ nông dân.

Trong tham gia xây dựng và duy trì các thiết chế văn hóa, trên cơ sở nguồn lực đầu tư của Nhà nước, thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, các cấp Hội đã huy động được hàng trăm tỷ đồng tiền mặt và hàng chục vạn ngày công cùng các vật tư, vật liệu để xây mới và nâng cấp các cơ sở văn hóa, nhà truyền thống, điểm vui chơi, điểm sinh hoạt văn hóa,... trên địa bàn nông thôn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo. Nhiều mô hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng dân cư như: các câu lạc bộ văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao của nông dân được các cấp Hội quan tâm hướng dẫn về mô hình hoạt động, hỗ trợ thiết bị, đào tạo nâng cao năng lực quản lý đã góp phần củng cố duy trì các thiết chế văn hóa, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho hội viên nông dân.

Hàng năm, tổ chức và hướng dẫn các đơn vị trong tỉnh tham gia Hội diễn văn nghệ quần chúng tỉnh, thành phố. Năm 2014 xây dựng các chương trình nghệ thuật chủ đề “Vì Biển đảo thân yêu”. Tại các cơ sở, hội viên và nông dân tham gia nhiệt tình, sôi nổi với những tiết mục văn hóa, nghệ thuật dân gian đặc sắc, như: Hát Chèo, hát Xẩm, hát Văn, tiếng hát người Mường…, góp phần tạo nên nhịp điệu, sức sống mới trên các làng quê.

Các phong trào văn hóa, hoạt động văn hóa văn nghệ của các cấp Hội đã góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần người nông dân, nâng cao nhận thức về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Hội Nông dân về phát triển văn hóa, nghệ thuật quần chúng, là những sân chơi bổ ích nhằm mở rộng giao lưu văn hóa, tăng cường sự hiểu biết, tình đoàn kết nông dân các dân tộc, các vùng miền của cả nước, góp phần khôi phục, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

2.2. Hoạt động phối hợp trong công tác gia đình
a. Xây dựng gia đình văn hóa:
Phong trào thực hiện 6 chuẩn mực gia đình nông dân văn hóa đã và đang là động lực thúc đẩy phong trào xây dựng Gia đình văn hoá trong cả nước. Các cấp Hội đã bám sát tiêu chuẩn gia đình văn hoá để tuyên truyền, vận động nhân dân, tạo sự chuyển biến nhận thức sâu rộng trong cán bộ, hội viên nông dân về vai trò, vị trí của xây dựng gia đình nông dân no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Kết quả tính đến hết năm 2014, cả nước có 15.865.654 gia đình được công nhận là gia đình văn hóa trên tổng số 21.123.234 hộ gia đình (trong đó có 19.128.125 hộ gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hóa - Số liệu do Cục Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thống kê năm 2014 trên cơ sở báo cáo của 63 Sở VHTTDL các tỉnh/thành).

b. Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình
Với chủ đề “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa gia đình Việt Nam”, các cấp Hội đang là lực lượng nòng cốt triển khai các hoạt động Đề án giáo dục đạo đức lối sống trong gia đình, xây dựng gia đình văn hoá. Các cấp Hội đã chủ động phối hợp với các ban, ngành đoàn thể, cấp ủy, chính quyền địa phương, thành lập và duy trì hoạt động hiệu quả nhiều loại hình mô hình gia đình văn hóa, như Câu lạc bộ nam nông dân tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, Câu lạc bộ gia đình nông dân phát triển bền vững, nhóm phòng, chống bạo lực gia đình, tổ hòa giải tại các thôn, xóm. Hoạt động của các mô hình trên đã góp phần quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục, nâng cao đạo đức, lối sống trong gia đình nông dân, nông thôn.

c. Phòng, chống bạo lực gia đình
Công tác gia đình đã tích cực đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới. 100% gia đình cán bộ, hội viên nông dân được tuyên truyền về Luật phòng chống bạo lực trong gia đình và 100% gia đình cán bộ, hội viên nông dân cam kết không có bạo lực trong gia đình. Sở VHTTDL thường xuyên phối hợp với Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Đài Phát thanh và Truyền hình; Báo tỉnh/thành tuyên truyền về công tác xây dựng gia đình đạt các tiêu chí: ít con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Đồng thời giúp đỡ các xã xây dựng nông thôn mới phát triển thêm các câu lạc bộ phòng chống bạo lực gia đình. 100% các tỉnh/thành triển khai Đề án Tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam ở các xã xây dựng nông thôn mới. Đến nay, Đề án này đã được triển khai tại tất cả các xã xây dựng nông thôn mới, đã xây dựng được hàng trăm mô hình địa chỉ tin cậy tại cộng đồng trên địa bàn, thành lập hàng ngàn câu lạc bộ phòng chống bạo lực gia đình với hàng trăm nghìn hội viên. Phần lớn các câu lạc bộ phòng chống bạo lực gia đình đã xây dựng kế hoạch hoạt động, ban hành Quy chế hoạt động, tổ chức ra mắt và sinh hoạt định kỳ 3 tháng/lần; hàng năm có sơ, tổng kết. Thông qua hoạt động của các mô hình địa chỉ tin cậy, các câu lạc bộ phòng chống bạo lực gia đình đã tích cực góp phần làm giảm nhẹ các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, hạn chế nhiều vụ bạo lực xảy ra.

d. Hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình
Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững của Hội Nông dân đã và đang phát huy tích cực tại các làng quê. Với phương châm mỗi hộ sản xuất kinh doanh giỏi giúp 2 đến 5 hộ nông dân nghèo vươn lên thoát nghèo và hộ khó khăn ít giúp hộ khó khăn nhiều. 5 năm qua, hội viên, nông dân các tỉnh, thành đã giúp nhau hàng trăm tỷ đồng, hàng triệu ngày công và hàng triệu con giống. Thực hiện chủ trương xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo, hộ chính sách, cán bộ, hội viên nông dân cả nước đã ủng hộ số tiền hàng chục tỷ đồng và hàng vạn ngày công.

Với vai trò trung tâm và nòng cốt trong phong trào nông dân, các cấp Hội đã có nhiều biện pháp chỉ đạo, tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, “dồn điền, đổi thửa” tạo vùng sản xuất tập trung; tư vấn, giới thiệu những giống cây trồng, vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao; tổ chức tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, tổ chức dạy nghề, tham quan, hội thảo, hội nghị đầu bờ; xây dựng các mô hình trình diễn; tín chấp cho nông dân vay vốn, mua vật tư nông nghiệp, máy nông cụ theo phương thức chậm trả với lãi xuất ưu đãi; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể; ký nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp với các bộ, ngành về đẩy mạnh triển khai các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở nông thôn. Các hoạt động trên đã được triển khai ở hầu hết các cấp Hội, đã thu hút được đông đảo các hộ nông dân tham gia phong trào. Bình quân hàng năm có 8,2 triệu hộ đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Từ phong trào đã xuất hiện ngày càng nhiều nông dân đạt danh hiệu hộ sản xuất, kinh doanh giỏi; nhiều mô hình có quy mô sản xuất lớn, thu hút hàng trăm lao động, thu nhập hàng chục tỷ đồng mỗi năm. So với 5 năm trước, số hộ có mức thu nhập trên 200 triệu đồng/năm tăng gấp 3 lần, số hộ có mức thu nhập trên 1 tỷ đồng/năm tăng 5 lần.

Phong trào đã khuyến khích, động viên nông dân phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bằng nhiều hình thức: giúp về vốn, giống, ngày công lao động, về cách làm ăn… Các cấp Hội đã vận động các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tạo việc làm tại chỗ cho hơn 10,5 triệu lượt lao động, trong đó có trên 3,3 triệu lượt lao động có việc làm thường xuyên, hơn 7 triệu lượt lao động có việc làm theo mùa vụ; giúp đỡ vốn, giống cây, con và kinh nghiệm sản xuất cho hơn 7 triệu lượt hộ nông dân; giúp hơn 150 nghìn hộ nông dân thoát được nghèo, trên 1 triệu hộ nghèo cải thiện điều kiện nhà ở.

 Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng (nay là Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững) đã góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thúc đẩy kinh tế phát triển, xây dựng Hội ngày càng vững mạnh.

2.3. Hoạt động thể dục thể thao
Tính đến năm 2014, hầu hết các xã, phường, thị trấn có các hoạt động thể dục, thể thao, câu lạc bộ hoặc nhà văn hóa thể thao, khoảng 46% xã, phường, thị trấn có sân chơi, bãi tập. Thể dục, thể thao quần chúng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có những bước tiến đáng kể; số người luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên khoảng 28%, gia đình thể thao khoảng 20%. Phong trào thể dục, thể thao người cao tuổi phát triển mạnh và được duy trì thường xuyên với khoảng 9.500 câu lạc bộ.

Các phong trào thể dục thể thao tại địa phương luôn luôn được gắn với các Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” và Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” để phát triển rộng rãi phong trào thể dục thể thao, vận động người dân tự chọn một môn thể thao hoặc một hình thức tập luyện phù hợp với mục tiêu nâng cao sức khỏe.

Các địa phương cũng đã đặc biệt quan tâm tới việc phát triển, bảo tồn các môn thể thao truyền thống, thể thao dân tộc, các trò chơi dân gian như: bóng đá, bóng chuyền nông dân, nhảy bao bố, bắt vịt, chạy cà kheo, pháo đất, bắn nỏ, bắn ná, đẩy gậy, tù lu, tung còn, lân sư rồng.....Bên cạnh đó một số địa phương có điều kiện đã quan tâm phát triển một số môn thể thao giải trí mới như leo tường giả, vũ đạo giải trí, mô tô nước, dù lượn, diều bay có động cơ, ô tô địa hình, câu cá thể thao, E-Sport... kết hợp một số môn thể thao giải trí với việc kinh doanh dịch vụ tại các khu du lịch là các hoạt động lành mạnh hướng sự quan tâm của người dân tới các môn thể thao mới, hiện đại. Có khoảng 60-70% xã đã dành đất cho thể dục, thể thao, trong đó có khoảng 30% xã có sân bóng, hồ bơi, nhà tập. Đến nay có 29.402 sân thể thao phổ thông, 1.311 phòng tập hoặc nhà tập thuộc cấp xã, gần 600 hồ bơi hoặc bể bơi, 37.760 sân tập từng môn được đưa vào sử dụng trực tiếp phục vụ nhu cầu tập luyện và thi đấu thể thao của nhân dân.

Nhiều địa phương đã kết hợp lồng ghép các hoạt động và cùng phối hợp với các sở, ban, ngành tại địa phương triển khai các hoạt động và đạt nhiều hiệu quả tích cực.
* Hoạt động thể dục thể thao trong chương trình xây dựng nông thôn mới có nhiều khởi sắc. Phối hợp với Vụ Văn hóa dân tộc tổ chức Ngày văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Tây Bắc, Đông bắc lần thứ XI, Đại hội TDTT Đồng bằng sông Cửu Long theo chu kỳ 2 năm đã trở thành hoạt động truyền thống và có sức lan tỏa, thu hút đông đảo bà con nông dân tham gia; Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số năm 2009, 2011, 2013 khu vực phía Bắc và phía Nam; Ngày hội Văn hóa, thể thao dân tộc Chăm, dân tộc Khơme, dân tộc Thái... được tổ chức định kỳ 3 năm một lần; phối hợp với Cục Văn hóa cơ sở tổ chức Liên hoan văn nghệ, thể thao các xã nông thôn mới ở 3 khu vực Bắc, Trung, Nam; Liên hoan văn hóa, thể thao các tỉnh có chung đường biên giới với Campuchia, Lào đã mang lại hiệu quả tốt đẹp; 28 lớp tập huấn thuộc 28 tỉnh, thành phố, trong đó có gần 4.000 cán bộ, cộng tác viên được bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn công tác thể dục thể thao cho các xã trên cả nước. Tính đến tháng 10 năm 2014 có 1.422 xã đạt tiêu chí của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 552/708 cấp huyện có Trung tâm Văn hóa - Thể thao, 4.032/11.161 xã, phường, thị trấn có mô hình Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp xã theo tiêu chí hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; 46% các thôn, bản có nhà văn hóa, khu thể thao thôn, trong đó có 47% đạt tiêu chí của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trên 700 xã đạt chuẩn 19 chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới. 3000 cuốn sách hướng dẫn về công tác thể dục thể thao trong Chương trình xây dựng nông thôn mới được xuất bản và chuyển về 63 tỉnh, thành phố.

2.4. Hoạt động du lịch
Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội Nông dân các cấp cũng rất quan tâm đến hoạt động du lịch nông thôn nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư về vị trí, vai trò của việc phát triển du lịch tại địa phương. Khuyến khích các hộ nông dân có điều kiện về cơ sở vật chất, vốn tham gia kinh doanh du lịch với loại hình sinh thái nông thôn tại địa phương. Đồng thời xây dựng nếp sống văn minh, sạch - đẹp, bảo đảm vệ sinh môi trường, giảm, thậm trí có nơi không còn tình trạng cò mồi, chèo kéo du khách tại các vườn cây ăn trái và các khu, điểm du lịch trên địa bàn.

Điển hình như: Hàng năm, Ủy ban Nhân dân tỉnh/thành tổ chức các hoạt động văn hóa du lịch như “Hội chợ Cây trái ngon an toàn – Chợ Lách” (Bến Tre), Lễ hội Dừa (Bến Tre), Tuần lễ Văn hóa Du lịch và các hoạt động ẩm thực. Đồng thời, tại các khu điểm du lịch, các di tích trên địa bàn tỉnh Bình Phước thường xuyên hỗ trợ và tiếp đón các đoàn khách tham quan do Hội Nông dân tổ chức. Phối hợp với Sở Công thương, Trung tâm Thương Mại và Xúc tiến Du lịch, Hội Nông dân tỉnh Bình Phước tổ chức hội chợ triển lãm về sản phẩm nông nghiệp. Tỉnh Đắk Lắk đã đầu tư triển khai 03 cụm, điểm du lịch hoạt động du lịch cộng đồng có sự tham gia của người nông dân (cung cấp cho khách du lịch các món ẩm thực, biểu diễn nghệ thuật cồng chiêng, múa hát) như Khu du kịch Hồ Lắk, Trung tâm Du lịch Buôn Đôn và Hợp tác xã Du lịch Buôn Jun. Diễn đàn Hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long (MDEC) Sóc Trăng 2014 với chủ đề “Tái cơ cấu nông nghiệp – xây dựng nông thôn mới thích ứng với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long”, điển hình là Hội chợ triển lãm “Hạt gạo thơm – thủy sản sạch – trái cây ngon – thương hiệu và du lịch đồng bằng sông Cửu Long năm 2014”. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương chủ trì tổ chức Hội nghị “Tập huấn phát triển du lịch cộng đồng, hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy các giá trị di tích, công tác quản lý môi trường trong các nhà vườn, các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh”. Qua hội nghị đã góp phần định hướng phát triển du lịch cộng đồng cho các hộ nhà vườn trong thời gian tới.

Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch homestay (du lịch nghỉ tại nhà dân) do đa dạng văn hóa vùng miền. Thực tế, homestay đang rất phổ biến tại khu vực miền núi Tây Bắc, Tây nguyên, Huế, Hội An và miền Tây. Loại hình du lịch homestay đang được chú trọng đầu tư và phát triển mạnh mẽ bởi Homestay tạo công ăn việc làm cho nhiều gia đình ở khu vực nông thôn mà không đòi hỏi đầu tư nhiều; tạo cơ hội thu nhập cho người dân tộc thiểu số vì du khách rất tò mò với nền văn hóa đa dạng nhiều màu sắc của Việt Nam; tạo ra giá trị đối với việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa do du khách háo hức muốn có trải nghiệm chân thực, bao gồm ẩm thực, nghệ thuật, quà tặng...

Thời gian qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành đã có Chương trình kích cầu du lịch để thu hút khách đến tham quan các điểm du lịch vùng nông thôn, khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trong các tỉnh/thành xây dựng các chương trình tour đưa khách đến tham quan các vùng sông nước miệt vườn làng quê, tham quan các làng nghề của người nông dân, hỗ trợ khuyến khích nông dân phát triển làng nghề phục vụ du lịch. Loại hình du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài bởi những giá trị văn hóa lâu dời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng. Hiện nay, cả nước có khoảng hơn 3.000 làng nghề thủ công, thuộc 11 nhóm nghề chính là sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá, kim khí…Các địa phương phát triển du lịch như Hà Nội, Hòa Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam. Xây dựng Đề tài “Nâng cao chất lượng điểm du lịch”, tổ chức nhiều lớp tập huấn kiến thức về du lịch, trong đó đa số học viên là các hộ nông dân, các làng nghề làm du lịch tham dự. Thông qua các lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch cho các hộ nông dân tham gia kinh doanh du lịch, tổ chức cho các học viên tham quan khảo sát mô hình du lịch tại các địa bàn trong và ngoài tỉnh; hỗ trợ các hộ nông dân tham dự các buổi hội chợ du lịch, hội chợ ẩm thực, giới thiệu các sản phẩm đặc trưng của địa phương đến các tỉnh thành trong cả nước.

Một số mô hình gắn kết du lịch với các làng nghề, với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, gắn kết với các hãng lữ hành và các địa phương để phát triển du lịch đã có những kinh nghiệm quý: tour du lịch đồng bằng sông Cửu Long giới thiệu cuộc sống sông nước miền Tây (Cần Thơ, Bến Tre, Long An…); du lịch biển có sự tham gia của cộng đồng bảo vệ sinh vật biển ở Rạn Trào (Khánh Hòa); tour du lịch nông nghiệp gắn với làng nghề Ba Vì (Hà Nội)…

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG, NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Đánh giá chung
1.1. Ưu điểm
Năm năm qua công tác phối hợp về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, gia đình, thể dục thể thao và du lịch giữa Hội Nông dân Việt Nam với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo chương trình phối hợp số 3127/CTPH-HND-BVHTTDL ngày 18/9/2009 và Kế hoạch số 960/KHPH-HNDVN-BVHTTDL ngày 22/12/2011 đã thu được nhiều kết quả thiết thực trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nông thôn mà cụ thể là việc xây dựng đời sống văn hóa nông thôn  và xây dựng Nông thôn mới đã thực sự trở thành cuộc vận động rộng lớn, có sức lan toả và thu hút toàn xã hội tham gia. Hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao các xã, các thôn, bản được tăng cường; quy chế dân chủ ở cơ sở được phát huy; quyền làm chủ của Hội viên nông dân trong việc hưởng thụ và sáng tạo văn hóa, thể thao được tôn trọng, góp phần làm lành mạnh môi trường văn hoá ở các vùng quê, nhân dân tin tưởng vào đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

* Nguyên nhân kết quả đạt được
- Nguyên nhân khách quan
Các nội dung, mục tiêu của Chương trình phối hợp được thực tiễn khẳng định, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển văn hóa, vừa đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Vì vậy việc triển khai thực hiện được cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện.
Các thành tựu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và kết quả của Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” đã tác động tích cực, tạo tiền đề thuận lợi cho chương trình phối hợp 3127/CTPH-HND-BVHTTDL.

- Nguyên nhân chủ quan
Chương trình phối hợp có sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo 2 ngành. Có sự chủ động phối hợp giữa các cấp Hội Nông dân với ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch ở cơ sở bước đầu phát huy tác dụng. Đặc biệt, các nội dung chương trình phối hợp đã được đông đảo Hội viên và nông dân đồng tình hưởng tích cực.

2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.1. Những hạn chế.
- Công tác triển khai, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Chương trình phối hợp còn chậm, chưa thể hiện được tính thiết thực, phát huy tính tích cực theo tinh thần của Chương trình phối hợp.
- Một số nơi hoạt động còn có biểu hiện hình thức, chạy theo thành tích, nên chất lượng Chương trình phối hợp chưa cao và thiếu tính bền vững; có nơi còn có Hội viên sinh con thứ 3 trở lên, tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình vẫn diễn biến phức tạp.
- Việc bố trí kinh phí cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao cho các cấp Hội và hội viên nông dân còn hạn hẹp, nhất là ở cơ sở không được chủ động, do đó, phong trào phát triển chưa được đồng đều giữa các vùng, miền.
Kinh phí đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá, thể dục thể thao ở một số địa phương chưa đồng bộ, như đã có Nhà văn hoá, nhưng trang thiết bị và phương tiện phục vụ cho hoạt động còn thiếu, việc tổ chức hoạt động chưa thường xuyên.

2.2. Nguyên nhân.
* Về khách quan:
Sự bùng nổ công nghệ thông tin cũng như việc mở cửa hội nhập dẫn đến sự xâm nhập của sản phẩm văn hóa độc hại và lối sống cá nhân, thực dụng, làm ảnh hưởng đến việc xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn.
Tình hình kinh tế xã hội ở một số địa phương còn khó khăn, do đó việc đầu tư kinh phí cho hoạt động chương trình và xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở còn ít.

* Về chủ quan:
Công tác phối hợp ở một số nơi thiếu đồng bộ, chưa chủ động trong việc xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện. Đặc biệt có một số địa phương thiếu vắng sự kiểm tra, đôn đốc và đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện chương trình.
Đội ngũ cán bộ nghiệp vụ ở một số địa phương còn thiếu về số lượng và hạn chế về chuyên môn. Một số cán bộ, hội viên lòng nhiệt tình, trách nhiệm chưa cao, năng lực hạn chế, chưa được nhân dân làng, bản đồng tình ủng hộ.

IV. TIẾP TỤC CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHỐI HỢP ĐẾN NĂM 2020
1.  Mục tiêu chung
Nâng cao chất lượng, hiệu quả Chương trình phối hợp giữa các cấp Hội Nông dân và Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Thực hiện đầy đủ các tiêu chí phát triển văn hóa nông thôn mới cấp xã, tạo nền tảng vững chắc để phát triển văn hóa nông thôn. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống; hoàn thiện cơ bản hệ thống các thiết chế văn hóa nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, hội viên nông dân tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao nhằm nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần, sức khỏe cho nhân dân khu vực nông thôn.

2. Nhiệm vụ và phương thức thực hiện
2.1. Tuyên truyền về xây dựng đời sống văn hoá nông thôn.
a) Nhiệm vụ:
-Tiếp tục thực hiện có hiệu quả nội dung chương trình phối hợp 3127/ CTPH-HND-BVHTTDL ngày 18/9/2009 và Kế hoạch số 960/KHPH-HNDVN-BVHTTDL ngày 22/12/2011.
- Nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên và nông dân về: Xây dựng gia đình văn hoá; thôn, xóm, bản, làng văn hoá; Xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới và xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn lành mạnh, phong phú, giàu bản sắc văn hoá dân tộc.
- Phổ biến rộng rãi kết quả, kinh nghiệm, cách làm hay trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện xây dựng đời sống văn hoá nông thôn.

b) Phương thức thực hiện:
- Sưu tầm, biên soạn tài liệu “Hỏi, đáp pháp luật về xây dựng đời sống văn hoá nông thôn”, phát hành đến các cấp Hội Nông dân trong tỉnh.
- Tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm, giao lưu về nội dung xây dựng đời sống văn hoá nông thôn cho cán bộ, hội viên, nông dân ở cộng đồng dân cư.
- Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng thường xuyên đăng tin, bài, ảnh tuyên truyền về xây dựng đời sống văn hoá nông thôn.

2.2. Tập huấn nghiệp vụ về xây dựng đời sống văn hoá, thể dục, thể thao nông thôn
a) Nhiệm vụ: Nâng cao nhận thức của cán bộ Hội Nông dân các cấp về:
- Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển văn hoá nông thôn, xây dựng nông thôn mới.
- Kỹ năng tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia xây dựng đời sống văn hoá nông thôn.

b) Phương thức thực hiện:
Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ về xây dựng đời sống văn hoá nông thôn cho cán bộ Hội các cấp, trong đó ưu tiên tập huấn cho cán bộ Hội cấp cơ sở về kỹ năng xây dựng tổ chức Hội; kỹ năng tuyên truyền vận động xây dựng Gia đình văn hóa, Làng văn hóa; kỹ năng tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao...

2.3. Chỉ đạo xây dựng “Xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới”
a) Nhiệm vụ:
Phấn đấu cuối năm 2020, 50% số xã trong cả nước đạt tiêu chí “Xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới” theo quy định của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
b) Phương thức thực hiện:
- Hai ngành phối hợp với cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Xây dựng nông thôn mới của các tỉnh thành phố tổ chức thực hiện Dự án xây dựng “Xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới”;
- Hội Nông dân, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố chỉ đạo Hội Nông dân và Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thành phố, thị xã tăng cường phối hợp chỉ đạo, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ văn hóa và cán bộ Hội ở cơ sở.

2.4. Tổ chức hội diễn văn nghệ, đại hội TDTT; hội thi, ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc vùng, miền.
a) Nhiệm vụ:
- Tổ chức hội diễn văn nghệ từ cơ sở lên tỉnh và tham gia hội thi “Tiếng hát đồng quê”, hội thi, ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc vùng, miền.
- Tổ chức Đại hội TDTT, Giải bóng chuyền nông dân Cúp “Bông lúa vàng”, Giải bóng đá nông dân từ cơ sở đến tỉnh và tham gia các giải do Trung ương tổ chức.
b) Phương thức thực hiện:
Phối hợp ban hành các kế hoạch tổ chức, hội diễn, hội thi, ngày hội, đại hội; chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện kế hoạch.
3. Một số giải pháp chủ yếu
3.1. Tăng công tác tham mưu của các cấp Hội Nông dân và ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các cấp, các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương đối với Chương trình phối hợp liên ngành xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn.
3.2. Gắn kết chặt chẽ các hoạt động xây dựng đời sống văn hoá nông thôn với nhiệm vụ chính trị của tổ chức Hội Nông dân trong phong trào phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
3.3. Xây dựng các mô hình, điển hình tiên tiến; kịp thời khen thưởng động viên các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng tổ chức Hội và xây dựng đời sống văn hóa nông thôn.
3.4. Tăng cường vận động xã hội hóa nguồn kinh phí để xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách để hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và tổ chức hoạt động các Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn, xóm, bản, làng.
3.5. Chú trọng bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội, cán bộ văn hoá, thể thao các cấp về kỹ năng lồng ghép nội dung xây dựng đời sống văn hóa với chương trình hoạt động của tổ chức Hội Nông dân ở cơ sở./.
 
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
                  KT. BỘ TRƯỞNG
                   THỨ TRƯỞNG

 
 
                  (Đã ký)
 
 
 
               Huỳnh Vĩnh Ái
T/M BAN THƯỜNG VỤ TƯ HỘI NDVN
                 PHÓ CHỦ TỊCH

 
 
 
                  (Đã ký)
 
 
 
          Nguyễn Hồng Lý
 
 
Nơi nhận:
- Ban Bí thư TW Đảng;
-Thủ tướng, các Phó Thủ tướng;
- VPTW Đảng,Vp Chính phủ, Vp Quốc hội;
- Ban Dân vận TW, Ban Tuyên giáo TW;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính;
- Thường trực TW Hội Nông dân Việt Nam;
- Các Thứ trưởng, Cục, Vụ - Bộ VHTTDL;
- Hội Nông dân và Sở VHTTDL 63 tỉnh/thành;
- Các cơ quan, Ban, đơn vị 2 ngành;
- Lưu: VP, TW Hội NDVN, VP, Bộ VHTT&DL, VHCS,TV (250).
 
 
 
 
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
41.130
41.390
Vàng nhẫn
41.100
41.550
Vàng nhẫn
41.100
41.650
Tỷ giá
EUR
26165.13
GBP
29948.81
USD
23260