Thứ năm, 21/11/2019 (GMT+7)
Giá nông sản
Báo cáo: Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 06 - NQ/HNDTW, ngày 19/7/2010 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khóa V) về “Tiếp tục xây dựng tổ chức Hội Nông dân các cấp vững mạnh”
15:58 - 04/08/2015
     HỘI  NÔNG DÂN VIỆT NAM
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
                       *
           Số  60 - BC/HNDTW
 Hà Nội, ngày  21  tháng 7 năm 2015
 
                  
BÁO CÁO
Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 06 - NQ/HNDTWngày 19/7/2010
của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khóa V)
về “Tiếp tục xây dựng tổ chức Hội Nông dân các cấp vững mạnh”
----------------
 
Thực hiện Nghị quyết số 06 - NQ/HNDTW (khóa V) về “Tiếp tục xây dựng tổ chức Hội Nông dân Việt Nam các cấp vững mạnh”, 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam công tác Hội và phong trào nông dân cả nước đã đạt được kết quả đáng ghi nhận, từng bước xây dựng, củng cố tổ chức Hội ở cơ sở ngày càng vững mạnh, hoạt động Hội và phong trào nông dân phát triển, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 26 - NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; Kết luận số 61 - KL/TW, ngày 03/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Đề án của Đảng Đoàn Hội Nông dân Việt Nam về "Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020” và quyết định 673/QĐ- TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Ban Chấp hành Trung ương Hội (khóa VI) báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết như sau:
 
Phần thứ nhất
KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 

I. CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

1. Ở Trung ương
Ngay sau khi Nghị quyết ban hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã chỉ đạo tổ chức quán triệt triển khai Nghị quyết và ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết. Bên cạnh đó, trong chương trình công tác hàng năm, các nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết 06 tiếp tục được Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội cụ thể hóa để các cấp Hội triển khai tổ chức thực hiện.

Đồng thời tiếp tục hoàn thiện các nội dung, giải pháp nhằm góp phần xây dựng tổ chức Hội vững mạnh toàn diện. Từ năm 2011 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành 04 nghị quyết về “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động và hướng dẫn phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 - 2020”, về “Tham gia thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2020”, về “Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nông dân trong tình hình mới”, về “Nâng cao trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam tham gia bảo vệ môi trường nông thôn và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2014 - 2020”. Ban hành Hướng dẫn đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Hội với các tiêu chí, nội dung cụ thể, toàn diện trên các lĩnh vực hoạt động của Hội; Quy định về thu, nộp, quản lý, sử dụng hội phí và xây dựng, quản lý, sử dụng quỹ Hội.

Trong quá trình triển khai thực hiện, xuất phát từ yêu cầu và những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã tham mưu, đề xuất với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI về các nội dung, giải pháp xây dựng tổ chức cơ sở Hội vững mạnh và sửa đổi, bổ sung một số qui định về công tác tổ chức xây dựng Hội trong Điều lệ Hội.

2. Ở địa phương
Ban Thường vụ Hội Nông dân các tỉnh, thành phố tích cực tổ chức phổ biến, quán triệt Nghị quyết tới cán bộ, hội viên, nông dân. Trong năm 2010 đã hoàn thành việc phổ biến, quán triệt Nghị quyết đến 100% tỉnh, thành, huyện, thị Hội, 98% cơ sở Hội và hơn 80% cán bộ, hội viên được nghe phổ biến Nghị quyết. Thông qua việc triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết, các cấp Hội, cán bộ, hội viên, nông dân đã nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, từ đó nhận thức được trách nhiệm của mình đối với công tác xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Nông dân trước yêu cầu đổi mới, góp phần cụ thể hoá Nghị quyết của Trung ương bằng những việc làm hiệu quả, thiết thực góp phần quan trọng trong việc hoàn thành các mục tiêu Nghị quyết của Ban Chấp hành và Nghị quyết Đại hội đề ra.

Trên cơ sở nội dung Nghị quyết, các cấp Hội đã xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết gắn với các chương trình, đề án cụ thể, thiết thực. Nhiều tỉnh, thành Hội đã xây dựng các đề án, ra các nghị quyết chuyên đề như: Hội Nông dân Lào Cai với nghị quyết “Công tác quy hoạch và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp”, Hội Nông dân Quảng Ninh với nghị quyết về “Nâng cao chất lượng tổ chức Hội cơ sở”, Hội Nông dân Bắc Giang với Đề án “Nâng cao chất lượng tổ chức và cán bộ Hội các cấp”, Hội Nông dân thành phố Hà Nội với “Chương trình đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng tổ chức Hội Nông dân các cấp vững mạnh”, Hội Nông dân Hà Giang, Hà Nam với Đề án “Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội Nông dân các cấp”, Hội Nông dân Thanh Hóa với đề án “Đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi, tổ Hội”, Hội Nông dân Đăk Lăk với Đề án “Nâng cao chất lượng hội viên và hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Hội”, Hội Nông dân Tiền Giang với nghị quyết “Xây dựng tổ chức cơ sở Hội vững mạnh”, Hội Nông dân Vĩnh Long với chương trình hành động “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Hội vững mạnh”.v.v...

Một số tỉnh, thành Hội đã chủ động, tích cực tham mưu cho cấp ủy ban hành Chỉ thị, Nghị quyết để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc xây dựng tổ chức Hội Nông dân vững mạnh như tỉnh Sơn La, Tuyên Quang, Quảng Ninh...

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1. Công tác xây dựng tổ chức Hội vững mạnh
1.1Công tác tuyên truyền, giáo dục cho hội viên nông dân
Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho hội viên, nông dân được tăng cường, có những đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương thức để phù hợp với tình hình mới, sát thực hơn với đời sống của hội viên, nông dân. Qua đó đã cổ vũ, khơi dậy tinh thần yêu nước; tạo nên sự đồng thuận, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng, Nhà nước; động viên cán bộ, hội viên, nông dân phát huy truyền thống của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam, tăng cường đoàn kết, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ Tổ quốc. 

Công tác giáo dục truyền thống cho cán bộ, hội viên, nông dân tiếp tục được các cấp Hội coi trọng thông qua các hình thức như: tổ chức lễ kỷ niệm, các cuộc thi tìm hiểu; giới thiệu sách, tài liệu lịch sử; hoạt động xã hội, đền ơn đáp nghĩa; tổ chức các hoạt động về nguồn… Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những chính sách liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời quan tâm chú trọng công tác nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, hội viên nông dân.

Các cấp Hội tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về ”Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cụ thể hóa các tiêu chí chuẩn mực đạo đức đối với cán bộ, hội viên, nông dân. Một số địa phương, đơn vị đã có những hình thức mới, sáng tạo, hấp dẫn, thu hút đông đảo hội viên nông dân tham gia như Hội thi tuyên truyền viên giỏi, kể chuyện Bác Hồ, sân khấu hóa...

 Với phương châm tuyên truyền, vận động, giáo dục qua thực tiễn hành động, nêu gương điển hình tiên tiến, các cấp Hội đã chủ động phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí ở Trung ương và địa phương, đặc biệt là các báo của Hội tăng cường nêu gương các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trong cán bộ, hội viên nông dân và trong xã hội. Nhiều tỉnh, thành Hội đã chủ động xây dựng được chương trình phối hợp với các cơ quan truyền thông thực hiện tuyên truyền về hoạt động của Hội và phong trào nông dân theo giai đoạn và định kỳ hằng năm.

1.2. Phát triển hội viên và nâng cao chất lượng hội viên   
Đây là nội dung quan trọng của công tác tổ chức xây dựng Hội, vì vậy đã được các cấp Hội luôn quan tâm, tập trung chỉ đạo thực hiện. Hằng năm căn cứ Nghị quyết của Ban Chấp hành, căn cứ điều kiện, tình hình cụ thể và khả năng của từng địa phương, Trung ương Hội giao chỉ tiêu phát triển hội viên mới cụ thể cho từng tỉnh, thành Hội. Trên cơ sở đó, các tỉnh, thành Hội xây dựng chỉ tiêu cụ thể cho từng cơ sở.

Các cơ sở Hội đã chú trọng các hoạt động kinh tế - xã hội, hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ, các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao để thu hút, tập hợp rộng rãi nông dân tham gia, qua đó xem xét, kết nạp hội viên. Công tác phát triển hội viên ở những địa bàn, khu vực khó khăn được chú ý hơn; mở rộng đối tượng kết nạp hội viên là người nghỉ hưu, kinh doanh, dịch vụ, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp sống ở nông thôn. Từ năm 2013, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã tập trung chỉ đạo rà soát và triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng hội viên trong cả nước, đảm bảo điều kiện, tiêu chí kết nạp hội viên mới. Sau rà soát, số lượng hội viên đã giảm 1.000.590 hội viên (tỉnh giảm nhiều nhất hơn 77.000 hội viên, bằng 44,7%). Mặc dù hội viên sau rà soát giảm nhiều nhưng chất lượng đã được nâng lên rõ rệt. Tỉ lệ hội viên tham gia sinh hoạt đạt từ 75% trở lên; tỷ lệ nộp hội phí 86,69% (năm 2010) tăng lên 90,25% (năm 2014). Trong 5 năm đã kết nạp được 2.353.757 hội viên mới, đưa tổng số hội viên năm 2015 lên 10.532.998 (tăng 7,36% so với năm 2010) chiếm 86,73% so với số hộ nông nghiệp. Số hộ có hội viên đạt 79,28%. Tỷ lệ hội viên được phát thẻ đạt 80,6%. Số lượng hội viên ưu tú được kết nạp vào Đảng ngày càng tăng, tỉ lệ hội viên là đảng viên chiếm 7,6 %. Nhận thức về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, ý thức trách nhiệm, tính tự giác, tiên phong, gương mẫu của người hội viên cao hơn; có ý thức làm giàu, ý chí, nghị lực vươn lên, không cam chịu đói nghèo; tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết, tính cộng đồng xã hội, giúp đỡ nhau cùng vươn lên trong sản xuất và đời sống được lan tỏa. Số hội viên đạt danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp ngày càng nhiều. Nhiều hội viên tự nguyện góp công sức, tiền của, hiến đất xây dựng cơ sở hạ tầng và công trình phúc lợi, xây dựng nông thôn mới. Khả năng tiếp cận, nắm bắt thông tin, tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ ngày càng nhanh. Nhận thức về tổ chức Hội đầy đủ hơn, gắn bó và tích cực tham gia các hoạt động do Hội tổ chức; sinh hoạt và đóng hội phí đầy đủ, đúng quy định, góp phần xây dựng Hội vững mạnh; tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; xây dựng cộng đồng, thôn xóm.

Công tác quản lý hội viên tiếp tục được chấn chỉnh thông qua việc lập sổ theo dõi hội viên, sổ thu hội phí, sổ nghị quyết chi hội. Một số tỉnh thực hiện quản lý hội viên chặt chẽ, khoa học, hàng quí đối chiếu sự biến động và chốt số lượng hội viên giữa chi hội và Hội cơ sở. Có địa phương đã thực hiện quản lý cán bộ, hội viên bằng phần mềm qua internet. Trung ương Hội đã xây dựng phần mềm quản lý nhân sự cán bộ Hội các cấp và hội viên để tổ chức triển khai trong cả nước. Việc phát triển hội viên đã gắn với phát thẻ hội viên nhằm tăng cường quản lý và nâng cao ý thức, trách nhiệm của hội viên. Một số tỉnh, thành Hội chỉ đạo tiến hành phân loại hội viên, bình xét thi đua, biểu dương hội viên có thành tích trong các phong trào thi đua và các hoạt động của Hội vào cuối năm. Các đơn vị làm tốt công tác quản lý hội viên là Hải Dương, Quảng Nam, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Tây Ninh, …

1.3. Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Hội 
Để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Hội, các cấp Hội đã kiện toàn, củng cố chi hội theo chi bộ đảng theo địa bàn dân cư. Nhìn chung, chi hội thành lập theo thôn, xóm, ấp, bản đảm bảo sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ đảng. Đối với những chi hội có số hội viên đông đã chia thành các tổ hội trực thuộc để thuận tiện cho việc tổ chức sinh hoạt Hội, đảm bảo chất lượng và hiệu quả của hoạt động. Mô hình tổ hội theo nghề nghiệp được duy trì và phát triển mạnh ở các tỉnh phía Nam. Mỗi tổ hội có từ 10 - 30 hội viên cùng sản xuất một loại giống, cây, con hay cùng kinh doanh một lĩnh vực, ngành nghề… Khi cùng tham gia sinh hoạt trong một tổ hội nghề nghiệp sẽ đảm bảo thiết thực, hiệu quả vì đạt được mục tiêu 3 cùng: “Cùng quan tâm, cùng chia sẻ, cùng có lợi ích”. Tiêu biểu như tỉnh Long An, Tiền Giang, An Giang. Các cấp Hội chú trọng đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi Hội, tổ Hội theo hướng ngày càng thiết thực hơn, hấp dẫn hơn, tiếp cận và từng bước đáp ứng những nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân, gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, tăng cường tính sáng tạo, vai trò chủ động, chủ thể của người hội viên trong sinh hoạt, hoạt động. Nhiều tâm tư, nguyện vọng của hội viên, nông dân được phản ánh kịp thời với cấp uỷ, chính quyền và Hội cấp trên. Nội dung sinh hoạt chi, tổ hội tập trung vào 4 vấn đề: “Việc nước”, “Việc làng”, “Việc Hội”, “Việc nhà”. Nhiều tỉnh, thành Hội đã đăng tải trên website và bản tin công tác Hội định hướng chủ đề, nội dung sinh hoạt của chi hội theo quí để giúp cho cơ sở chủ động, linh hoạt hơn về nội dung sinh hoạt chi, tổ hội như Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Tây Ninh...; nhiều đơn vị tổ chức tọa đàm với chủ đề “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chi hội”. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, tỷ lệ tổ chức cơ sở Hội, chi hội vững mạnh và khá tăng cao, số cơ sở Hội, chi hội yếu ngày càng giảm.

Hầu hết Hội cơ sở và 65% chi hội xây dựng được kế hoạch, chương trình công tác hàng quý theo chủ đề gắn với sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và nhiệm vụ của Hội, đáp ứng nhu cầu, lợi ích của hội viên nông dân, phù hợp với tình hình của địa phương; xây dựng được quy chế làm việc và chương trình công tác của Ban chấp hành, Ban Thường vụ, duy trì nghiêm túc các chế độ sinh hoạt, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ.

Đến thời điểm này, có 10.575 cơ sở Hội (tăng 39 cơ sở so với năm 2010), 95.359 chi hội (tăng 585 chi hội), 158.938 tổ hội (giảm 13.878 tổ). Trong 5 năm thành lập mới 74 cơ sở, 3.198 chi hội; giải thể 35 cơ sở, 2.488 chi hội là do chia tách, sáp nhập địa bàn hành chính hoặc không còn hội viên.

Nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ Hội cơ sở, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã mở các lớp Trung cấp công tác xã hội, chuyên ngành công tác Hội Nông dân cho 1.621 Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội cơ sở và cán bộ dự nguồn chưa qua đào tạo. Nhiều tỉnh, thành Hội đã tổ chức “Hội thi cán bộ cơ sở giỏi”, biểu dương, giao lưu “Cán bộ cơ sở Hội, chi hội giỏi” nhằm tạo điều kiện cho cán bộ cơ sở được giao lưu, học hỏi, có ý thức rèn luyện nâng cao kiến thức, tích lũy kinh nghiệm công tác. Nhìn chung, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, cán bộ chủ chốt cơ sở Hội có trình độ đại học, cao đẳng ngày càng tăng, vững vàng hơn về kĩ năng nghiệp vụ, phương pháp công tác và lý luận chính trị; nhiều cán bộ chi hội trưởng chuyên trách, nhiệt tình, tâm huyết, có uy tín với cấp ủy và trong hội viên, nông dân.

Các cấp Hội đã phát huy vai trò của hội viên và tổ chức cơ sở Hội trong việc thực hiện Nghị quyết của Đảng, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị; thông qua đó, tạo môi trường để cán bộ, hội viên rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong 4 năm (2010 - 2014), các cấp Hội đã giới thiệu cho Đảng hàng chục ngàn hội viên ưu tú, trong đó có trên 15.500 hội viên ưu tú được kết nạp Đảng. Đến nay, cả nước có trên 890.000 đảng viên là hội viên Hội Nông dân Việt Nam.

Công tác xây dựng quỹ Hội ngày càng được chú trọng với nhiều hình thức, cách làm hiệu quả như tổ chức lao động tập thể, nhận công trình công cộng, hội viên đóng góp, các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nông dân.... Đến nay, số cơ sở Hội có quỹ đạt 96,73%, chi hội đạt 87,5 %. Nhiều cơ sở Hội có số dư quỹ hàng trăm triệu đồng, chi hội có quỹ hàng chục triệu đồng, bình quân 100.000 - 200.000đ/hội viên. Quỹ hội đã được quản lý và sử dụng đúng mục đích. Chủ yếu chi cho hoạt động Hội, thi đua, khen thưởng, thăm hỏi hội viên khi ốm đau, phúng viếng hội viên khi qua đời, mua báo Hội, cho hội viên vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi.

2. Xây dựng Ban Chấp hành các cấp đảm bảo tiêu chuẩn và cơ cấu hợp lý, tổ chức bộ máy và cán bộ giúp việc theo hướng tinh gọn và hiệu quả
2.1. Xây dựng Ban chấp hành các cấp

Tại Đại hội nhiệm kỳ 2013 – 2018, Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp đã thực hiện nghiêm túc việc tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động của Ban Chấp hành, chỉ ra những mặt hạn chế, rút kinh nghiệm. Trên cơ sở đó xây dựng Đề án Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới có số lượng, cơ cấu hợp lý; đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của Đảng, Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Hội, Kế hoạch số 499 - KH/HNDTW, ngày 20/7/2011 và Hướng dẫn số 730 – HD/HNDTW, ngày 05/10/2011 của Ban Thường vụ Trung ương Hội. Ban chấp hành các cấp đã được cơ cấu hợp lý về độ tuổi, về tái cử và bổ sung mới, về chuyên trách và kiêm nhiệm, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở mỗi cấp. Ban chấp hành nhiệm kỳ 2013 – 2018, đã tăng cường cơ cấu cán bộ Hội chuyên trách; ủy viên không chuyên trách được xem xét, lựa chọn hợp lý, chủ yếu cơ cấu các ngành, đoàn thể, đơn vị gắn bó, liên quan mật thiết với nông nghiệp, nông dân và hoạt động của Hội. Ban Chấp hành các cấp Hội cơ bản có trình độ chuyên môn và lý luận chính trị cao hơn nhiệm kỳ trước, có kinh nghiệm thực tiễn, có độ tuổi trẻ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Hội trong tình hình mới. Tuổi bình quân Ban Chấp hành dưới 47 tuổi. Tỉ lệ nữ trong các cơ quan lãnh đạo của Hội tăng hơn nhiệm kỳ trước.

Ban chấp hành cấp cơ sở: 6,95% cao đẳng, đại học (tăng 3,45% so với nhiệm kỳ trước); 14,91 % trung cấp (tăng 3,81%); 30,18% có trình độ lý luận chính trị sơ cấp trở lên (tăng 1,58%).

Ban Chấp hành cấp huyện: 1,27% thạc sỹ (tăng 1,24%), 60,73% cao đẳng, đại học (tăng 30,63%); 87,79% có trình độ lý luận chính trị sơ cấp trở lên (tăng 10,78%), trong đó 14,68% cao cấp và cử nhân (tăng 4,02%).

Ban chấp hành cấp tỉnh: 8,71% thạc sỹ (tăng 5,41%), 78,7% cao đẳng, đại học (tăng 7,4%); 92,2% có trình độ lý luận chính trị sơ cấp trở lên (tăng 1,8%), trong đó 62,9% cao cấp và cử nhân (tăng 4,9%).

Ban Chấp hành Trung ương Hội: 26,23% thạc sỹ, tiến sỹ (tăng 8,5%) trong đó 7,38% giáo sư, tiến sỹ; 73% cao đẳng, đại học; 99,2% có trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên (tăng 1,62%), trong đó 95,1% cao cấp và cử nhân (tăng 2,36%).

Nhìn chung, các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ gìn tốt phẩm chất đạo đức, lối sống,  đoàn kết, thống nhất, có uy tín với cán bộ, hội viên, nông dân, nhiệt tình với công việc, có tinh thần chủ động, sáng tạo trong công tác; có năng lực tham mưu, vận động nông dân và kinh nghiệm công tác Hội, được cấp uỷ Đảng, chính quyền đánh giá cao. Trong quá trình Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiều cán bộ Hội có uy tín và năng lực đã được cấp ủy Đảng quan tâm sắp xếp, luân chuyển, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm ở các vị trí cao hơn, quan trọng hơn. Một số tỉnh như Sơn La, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Bình có tỷ lệ chủ tịch Hội cơ sở tham gia cấp ủy và luân chuyển giữ chức vụ cao hơn cao.

2.2. Tổ chức bộ máy và cán bộ giúp việc 
Tổ chức bộ máy và cán bộ tham mưu, giúp việc từ Trung ương đến cấp huyện tiếp tục được kiện toàn, củng cố và tăng cường; Chức năng nhiệm vụ của các ban, đơn vị được rà soát, phân công rõ ràng, hạn chế sự chồng chéo giữa các ban, đơn vị của từng cấp, góp phần thực hiện tốt công tác tham mưu, giúp việc Thường trực, Ban Thường vụ và Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp. Trung ương Hội đã tích cực xây dựng đề án và tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng và ban hành Quy định 282 - QĐ/BBTWĐ, ngày 01/4/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội cấp tỉnh, cấp huyện. Theo quy định này Ban Điều hành Quỹ hỗ trợ nông dân được công nhận là 1 trong 5 ban, đơn vị tham mưu của Hội cấp tỉnh; quy định số lượng biên chế của Hội Nông dân cấp tỉnh tối thiểu là 21, Hội Nông dân cấp huyện tối thiểu là 3 cán bộ. Trung ương Hội đã tổ chức rà soát, đánh giá, đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở đào tạo, dạy nghề cho nông dân; khánh thành và đưa vào sử dụng 17 trung tâm, tiếp tục triển khai xây dựng và nâng cấp 18 Trung tâm của các tỉnh, thành Hội.

a) Tổ chức bộ máy và cán bộ
* Ở Trung ương: Trung ương Hội đã tập trung kiện toàn, sắp xếp tổ chức, bộ máy Cơ quan Trung ương Hội, hiện nay có 15 ban, đơn vị trực thuộc, trong đó có 09 ban chuyên môn, 06 đơn vị sự nghiệp, 23 phòng và trung tâm trực thuộc các ban, đơn vị với tổng số biên chế hưởng lương ngân sách nhà nước 243 người. Thực hiện điều động, sắp xếp và cơ cấu lại nhân sự lãnh đạo các ban, đơn vị phù hợp theo Đề án của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội khóa VI để đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, hiệu quả. Chỉ đạo xây dựng và ban hành các quy chế, quy định, hướng dẫn hoạt động của cơ quan Trung ương Hội. Hoạt động của các ban, đơn vị ngày càng chuyên nghiệp, chuyên sâu về các lĩnh vực theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể; sự phối hợp ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn. Trung ương Hội đã thành lập Trường Trung cấp nghề Hội Nông dân Việt Nam trên cơ sở nâng cấp từ Trung tâm dạy nghề và Hỗ trợ việc làm nông dân.

* Cấp tỉnh: Do chưa có hướng dẫn cụ thể về tổ chức bộ máy và biên chế của Hội Nông dân cấp tỉnh nên chưa có sự thống nhất về mô hình tổ chức bộ máy và tên gọi các đơn vị trực thuộc trong toàn quốc. Phần lớn tổ chức bộ máy Hội Nông dân các tỉnh, thành phố là 5 đơn vị (có 28 tỉnh), gồm: Văn phòng, Ban Tổ chức - Kiểm tra, Ban Tuyên huấn, Ban Kinh tế - Xã hội, Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; 19 tỉnh 6 đơn vị, 10 tỉnh 7 đơn vị, 3 tỉnh 8 đơn vị, 1 tỉnh 11 đơn vị và 2 tỉnh 4 đơn vị. Được sự đồng ý của cấp ủy, 19 tỉnh, thành phố tách Ban Tổ chức - Kiểm tra; 21 tỉnh, thành phố tách Ban Kinh tế - Xã hội thành 2 Ban riêng; 20 tỉnh thành lập Ban Điều hành Quỹ hố trợ nông dân riêng, 43 tỉnh còn lại có thành lập nhưng hoạt động kiêm nhiệm. Đến nay, 52 tỉnh, thành phố đã thành lập Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân để thực hiện nhiệm vụ tổ chức các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ và dạy nghề cho nông dân. Trong đó có 20 tỉnh, thành phố đã được ủy ban nhân dân tỉnh bố trí biên chế viên chức và cấp quỹ lương để hoạt động, còn lại thực hiện cán bộ, công chức kiêm nhiệm, hoặc điều từ biên chế công chức sang, hoặc ký hợp đồng lao động tự chi trả.

Biên chế cán bộ Hội cấp tỉnh là 1.556 người, trong đó công chức 1.443 người, viên chức 113 người. Bình quân biên chế Hội Nông dân tỉnh, thành phố là 23 người; tỉnh có biên chế thấp nhất là 17, nhiều nhất là 42. Ngoài biên chế được phân bổ, các tỉnh, thành phố đều ký thêm cán bộ hợp đồng để đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

* Cấp huyện: Cấp huyện không tổ chức các phòng, ban chuyên môn mà bố trí cán bộ theo từng lĩnh vực hoạt động, từng mảng công việc. Bình quân biên chế cán bộ cấp huyện là 5 người (thấp nhất là 2 biên chế, nhiều nhất là 8 biên chế). Tổng số cán bộ cấp huyện 3.202, trong đó: biên chế 3.023, hợp đồng 179. Do số lượng biên chế đựợc phân bổ thấp, nhiệm vụ của Hội tăng và mở rộng, nhiều Hội cấp huyện có điều kiện đã ký hợp đồng thêm cán bộ để đảm bảo thực hiện được một số nhiệm vụ, chương trình, dự án của Hội.

* Cấp cơ sở: Với 10.575 chủ tịch Hội cơ sở là cán bộ chuyên trách, được xếp lương theo ngạch bậc phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, 10.575 phó chủ tịch là cán bộ không chuyên trách được hưởng phụ cấp theo Nghị định 92 của Chính phủ, mức phụ cấp do Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định nhưng không quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu; 190.318 chi hội trưởng, chi hội phó, hầu hết các chi hội bầu 1 chi hội phó. Chi Hội trưởng được hưởng phụ cấp từ 0,1 - 0,3 hệ số mức lương tối thiểu.

b) Đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc 
5 năm qua, cùng với sự phát triển toàn diện của công tác Hội và phong trào nông dân, công tác cán bộ Hội có nhiều đổi mới và phát triển vượt bậc. Nhiều tỉnh, thành Hội đã xây dựng Đề án quy hoạch, đào tạo cán bộ theo từng giai đoạn; công tác tuyển chọn, rà soát, quy hoạch, sắp xếp, luân chuyển cán bộ tiếp tục được chú trọng. Nhiều cán bộ được cử đi học nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp vụ bổ trợ. Số lượng cán bộ được đi học tập, nghiên cứu, tham quan, khảo sát ở nước ngoài ngày càng tăng. Trong 5 năm, Trung ương Hội đã cử đi đào tạo 16 thạc sỹ, 27 trung cấp, cao cấp chính trị; 108 đồng chí được đào tạo ở nước ngoài theo Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương và Đề án của Bộ Nội vụ, trong đó 72 đồng chí lãnh đạo cấp vụ và cán bộ trong quy hoạch của Trung ương Hội, 36 đồng chí là Chủ tịch Hội Nông dân các tỉnh, thành phố; cử 88 đoàn với 209 lượt cán bộ, công chức đi nghiên cứu, học tập, khảo sát ở nước ngoài từ nguồn ngân sách Nhà nước, các dự án Chính phủ và tài trợ, hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài. Đáng chú ý là chương trình hợp tác đào tạo với tổ chức nông dân Đức đã cử 81 người, trong đó có 7 hội viên nông dân. Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã tạo điều kiện về nguồn lực để nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ Hội. Thực hiện Đề án, Trường cán bộ Hội Nông dân Việt Nam đã mở 27 lớp bồi dưỡng cho 2.522 cán bộ hội cơ sở, 21 lớp trung cấp chuyên nghiệp cho 1.621 cán bộ Hội cơ sở; 27 lớp bồi dưỡng cho 2.500 cán bộ cấp huyện, tỉnh và Trung ương Hội. Các cấp Hội đã thực hiện tốt việc tổ chức tập huấn cán bộ hàng năm. Trực tiếp và phối hợp với Trường chính trị tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện mở 151 lớp cho 13.006 cán bộ cơ sở. Tính đến tháng 5 năm 2015 đã có 86,7% cán bộ chuyên trách cấp tỉnh, 84.95% cán bộ chuyên trách cấp huyện, 86,3% cán bộ Hội cơ sở và 80,4% chi hội trưởng được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội do Trung ương, tỉnh, huyện trực tiếp và phối hợp bồi dưỡng.  

Các cấp Hội đã chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và giới thiệu cán bộ Hội cho Đảng, chính quyền. Tỉ lệ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp tham gia cấp ủy, Hội đồng nhân dân đều tăng so với nhiệm kỳ trước. Nhiệm kỳ 2010 – 2015, đã có 90,47% cán bộ chủ chốt cấp tỉnh (tăng 15,2%), 79,25% cấp huyện (tăng 12, 4%), 54,89% cấp xã (tăng 7,19%) tham gia cấp ủy; 90,48 cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh (tăng 8,7%), 56,59 cấp huyện (tăng 11,7%), 77,53% cấp cơ sở (tăng 17, 6%) tham gia Hội đồng nhân dân. Nhiều cán bộ của Hội đã được cấp ủy, chính quyền các cấp tín nhiệm bổ nhiệm giữ những vị trí quan trọng tại địa phương và đơn vị.

Việc thực hiện chính sách đối với cán bộ đảm bảo quy định của Nhà nước, từng bước được nâng cao. Nhiều đơn vị đã thu hút được cán bộ có trình độ, tâm huyết, kinh nghiệm và uy tín về công tác tại cơ quan chuyên trách của Hội.

3. Xây dựng tổ chức Hội gắn với tổ chức các phong trào thi đua và tham gia một số chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Thực hiện phương châm lấy lợi ích kinh tế, quyền lợi thiết thực của hội viên, nông dân làm động lực hoạt động và chất keo kết nối, thu hút, tập hợp, vận động  hội viên, nông dân, Hội nông dân các cấp đã đẩy mạnh tổ chức thực hiện có hiệu quả ba phong trào thi đua lớn của Hội, trọng tâm là phong trào "Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” gắn với phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Các cấp Hội đã tổ chức sâu rộng các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ, tư vấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, vay vốn tín dụng, tạo điều kiện cho hội viên nông dân trong lao động, sản xuất, phát triển kinh tế. Nhiều mô hình câu lạc bộ khuyến nông, khuyến ngư, tổ, nhóm vay vốn, tổ liên kết sản xuất tiếp tục được thành lập mới và duy trì. Nhiều tỉnh, thành Hội đã chủ động đăng tải trên website, bản tin công tác Hội các nội dung về ứng dụng khoa học kỹ thuật, giới thiệu các mô hình, điển hình làm kinh tế giỏi.

Các cấp Hội cũng chủ động phối hợp, khai thác nguồn lực, huy động các lực lượng xã hội tham gia hỗ trợ, khuyến khích hội viên nông dân nghiên cứu khoa học, sáng chế kỹ thuật mới, chế tạo các loại máy nông nghiệp và được áp dụng có hiệu quả trong sản xuất mang lại năng suất, chất lượng cao. Trung ương Hội duy trì cuộc thi sáng tạo kỹ thuật nhà nông 2 năm một lần góp phần khuyến khích, động viên sự sáng tạo của hội viên, nông dân và tạo môi trường để hội viên nông dân nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống.

Chương trình tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học công nghệ và truy cập Internet cho nông dân triển khai đạt kết quả tốt, góp phần giới thiệu và trang bị những kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin, giúp hội viên nông dân khai thác các website hữu ích, ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ lao động sản xuất. Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” được các cấp Hội triển khai có hiệu quả. Trong 5 năm, đã phối hợp và trực tiếp dạy nghề được 33.593 lớp cho 1.074.976 hội viên, nông dân.  

Từ  năm 2010 đến nay, toàn hệ thống Hội đã huy động trên 65.081tỷ đồng hỗ trợ hội viên nông dân vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh thông qua các nguồn vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, nguồn vốn Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn và nguồn vốn của các tỉnh, thành với trên 2.852.463 hộ vay. Đã có hơn 120.000 hộ hội viên nông dân được vay vốn từ nguồn Quỹ hỗ trợ nông dân của tổ chức Hội với 1.939,202 tỷ đồng. Số lượng hội viên được vay vốn ngày càng tăng qua các năm. Bên cạnh việc hỗ trợ vay vốn cho hội viên nông dân, các cấp Hội tiếp tục duy trì hiệu quả hoạt động của các nhóm, câu lạc bộ giúp nhau sản xuất; dạy nghề tạo chất keo kết nối gắn bó với tổ chức Hội của hội viên và thu hút sự tham gia tổ chức Hội của nông dân.

Có thể nhận thấy các phong trào thi đua, các chương trình, dự án của các cấp Hội từ trung ương tới địa phương đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Hội, hỗ trợ hội viên nông dân tiếp cận cơ hội được học nghề, có việc làm, có cơ hội vươn lên phát triển sản xuất, tăng thu nhập và cải thiện đời sống, làm giàu cho gia đình và xã hội.

4. Đổi mới công tác chỉ đạo và tham mưu, phối hợp tham gia thực hiện các chương trình, đề án của Hội
Ngay sau Đại hội nhiệm kỳ, ban chấp hành, ban thường vụ các cấp Hội đã xây dựng quy chế làm việc, chương trình hoạt động toàn khoá; thực hiện đổi mới phong cách lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đi sâu đi sát cơ sở, hướng mạnh hoạt động về cơ sở, tập trung cho cơ sở. Thực hiện phân công, phân nhiệm cụ thể đối với từng đồng chí Thường trực, ủy viên ban chấp hành, ban thường vụ, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, thống nhất đối với công tác Hội và phong trào nông dân. Một số tỉnh, thành Hội quy định chế độ dự sinh hoạt chi hội hàng năm đối với ủy viên Ban Chấp hành, ủy viên Ban Thường vụ. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hoạt động của Hội và phong trào nông dân đã kịp thời phản ánh, đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng về những bức xúc của nông dân nhằm đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để nông dân phát triển sản xuất, khuyến khích nông dân đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu ngành nghề nhằm phát triển một nền nông nghiệp an toàn và bền vững, nông thôn ổn định và phát triển, đời sống nông dân từng bước được cải thiện; chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên nông dân.

Với phương châm hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động, Ban chấp hành các cấp đã tập trung xây dựng và tổ chức chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nghị quyết chuyên đề của Hội; tích cực tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo; chủ động tăng cường phối hợp với các Bộ, ban, ngành liên quan để khai thác, vận động tạo nguồn lực cho Hội hoạt động nhằm hỗ trợ nông dân về vốn tín dụng, khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và thị trường tiêu thụ… Chú trọng công tác sơ kết, tổng kết để nâng cao hiệu quả các chương trình phối hợp.

Các cấp Hội cũng đã coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, nghị quyết của Hội, định kỳ 6 tháng, 1 năm tổ chức các đoàn kiểm tra, khảo sát cơ sở Hội đánh giá kết quả công tác Hội và phong trào nông dân, đặc biệt là kết quả thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp xây dựng củng cố tổ chức Hội theo tinh thần nghị quyết 06 (khóa V).

Các cấp Hội đã phát huy vai trò tham gia giám sát và phản biện xã hội đối với việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nhiều nội dung kiến nghị, đề xuất của Hội đã được Đảng và Nhà nước thể chế hóa và đem lại những hiệu quả nhất định. Thông qua đó, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và hoạt động của Hội từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện để Hội Nông dân được phát triển toàn diện, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước.

5. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết 
1. Tuyên truyền vận động để đến năm 2015 có trên 70% chủ hộ sản xuất nông nghiệp vào tổ chức Hội Nông dân (đạt 100% chỉ tiêu). Hàng năm phát triển từ 500.000 - 600.000 hội viên (đạt 86,59% chỉ tiêu)

2. Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ sở Hội, phấn đấu đến 2013 có 90% cơ sở, chi, tổ Hội đạt khá trở lên trong đó 65% vững mạnh (vượt chỉ tiêu). Giảm tỉ lệ chi hội yếu kém xuống dưới 2% (vượt chỉ tiêu).

3. Phấn đấu 100% cơ sở hội, chi hội xây dựng và phát triển được quỹ hội để tăng cường kinh phí cho hoạt động (đạt 96,73 và 87,5% chỉ tiêu). Mỗi năm tăng trưởng 20% Quỹ Hỗ trợ nông dân (vượt chỉ tiêu).

4. Phấn đấu đến năm 2015 có 50% cán bộ chủ chốt cơ sở có trình độ chính trị, chuyên môn đạt chuẩn theo quy định (vượt chỉ tiêu); đến năm 2020, 100% đạt chuẩn theo quy định.

5. Đến 2015 có 90% cán bộ cơ sở Hội (đạt 99,89% chỉ tiêu) và 80% cán bộ chi, tổ Hội (đạt 93,25% chỉ tiêu) được bồi dưỡng, tập huấn về lý luận và nghiệp vụ công tác Hội.
 
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
1. Đánh giá chung
1.1. Ưu điểm
Có thể nói, Nghị quyết số 06-NQ/HNDTW ngày 19/7/2010 của Ban Chấp hành Trung ương Hội khóa V về “Tiếp tục xây dựng tổ chức Hội Nông dân các cấp vững mạnh” được ban hành đúng lúc, thể hiện sự quan tâm, tập trung chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hội về công tác xây dựng tổ chức Hội trong thời kỳ mới. Nghị quyết đã tạo bước phát triển vượt bậc trong công tác Hội và phong trào nông dân nói chung, công tác tổ chức Hội nói riêng; được các cấp Hội và cán bộ, hội viên nông dân triển khai, thực hiện tích cực.

Sau khi Ban Chấp hành Trung ương Hội ban hành Nghị quyết, các cấp Hội đã chủ động cụ thể hóa bằng các nội dung, giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị; chủ động đề xuất để cấp ủy tăng cường lãnh đạo công tác Hội; quyết tâm đổi mới và nâng cao chất lượng công tác Hội và phong trào nông dân. Kết quả cho thấy, hệ thống tổ chức của Hội ở các cấp không ngừng được củng cố, công tác cán bộ Hội có chuyển biến rõ nét, số lượng hội viên cơ bản giữ ổn định, chất lượng hội viên từng bước được nâng lên, đã có thêm nhiều hội viên nông dân được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp hội viên nông dân được mở rộng. Thực tiễn phong trào đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến, nhiều mô hình mới, cách làm hay, hiệu quả, sáng tạo. Công tác phối hợp với các cơ quan, ban, ngành đạt nhiều kết quả thiết thực. Uy tín và vị thế của tổ chức Hội trong hệ thống chính trị và đời sống của hội viên nông dân tiếp tục được nâng cao. Hội Nông dân Việt Nam ngày càng phát huy vai trò là trung tâm nòng cốt trong phong trào nông dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

 1.2. Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai Nghị quyết 06 của các cấp Hội vẫn còn bộc lộ những hạn chế sau:
- Tính cụ thể hóa, năng lực tổ chức thực hiện Nghị quyết ở một số cấp Hội và cán bộ Hội chưa tốt; có biểu hiện hình thức, thụ động trong tham mưu, đề xuất, phối hợp triển khai thực hiện. Việc sơ kết Nghị quyết ở một số đơn vị ở các cấp Hội chưa nghiêm túc, còn sơ sài.

- Một số đơn vị xây dựng ban chấp hành chưa đảm bảo yêu cầu tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị, cơ cấu chưa hợp lý.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục hội viên nông dân chưa thường xuyên. Việc rà soát hội viên có tỉnh thực hiện chưa triệt để và quyết liệt.

- Hoạt động Hội vùng ven biển, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn ở một số nơi còn yếu. Công tác phát triển hội viên trong các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn và việc thành lập chi, tổ hội theo nghề nghiệp gặp nhiều khó khăn, kết quả còn hạn chế. Tỷ lệ vận động, tập hợp nông dân ở một số nơi còn thấp. Chỉ tiêu phát triển hội viên hàng năm chưa đạt so với Nghị quyết đề ra. Số hội viên tăng sau 5 năm không đáng kể vì số phát triển mới và số giảm hàng năm gần như ngang nhau. Tác động, ảnh hưởng của Hội cơ sở đối với hội viên có nơi chưa rõ nét.

- Nhiều tỉnh, thành Hội, chưa thực hiện nghiêm túc quy định thành lập các tổ hội đối với những chi hội có số lượng hội viên quá đông (400 - 500 hội viên) đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả sinh hoạt và hoạt động của Hội.
- Việc thực hiện chế độ sinh hoạt theo quy định của Điều lệ ở nhiều cơ sở Hội chưa đảm bảo. Nhiều chi hội sinh hoạt 6 tháng/lần, tổ Hội 3 tháng/lần thậm chí có nơi 1 năm sinh hoạt một lần. Một số nơi sinh hoạt chi hội chủ yếu thành phần là cán bộ chi, tổ Hội; tỉ lệ hội viên thường xuyên tham gia sinh hoạt còn thấp. Số hội viên đi làm ăn xa 6 tháng, 1 năm vẫn đóng hội phí nhưng không tham gia sinh hoạt ngày càng tăng.

-  Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội chưa được chú trọng đúng mức, còn phụ thuộc vào cấp ủy.
- Chất lượng, hiệu quả của một số phong trào, mô hình, chương trình, hoạt động của Hội còn hạn chế, thiếu chiều sâu và chưa bền vững, còn có biểu hiện hình thức.
- Hoạt động dạy nghề và tư vấn, dịch vụ, hỗ trợ nông dân ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức, nên kết quả hoạt động chưa cao.
- Công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc của một số đơn vị thiếu thường xuyên, không kịp thời có giải pháp tháo gỡ khó khăn từ thực tiễn công tác Hội tại cơ sở.

2. Nguyên nhân 
2.1. Nguyên nhân của ưu điểm
- Các cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, đặc biệt, trực tiếp và toàn diện tới công tác xây dựng và phát triển tổ chức Hội.
- Quá trình triển khai Nghị quyết, các cấp Hội đã chủ động, sáng tạo xây dựng chương trình hành động, giải pháp thiết thực cụ thể phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị và các đối tượng nông dân ở nông thôn, lựa chọn khâu đột phá từ cơ sở, tập trung giải quyết những khâu yếu, nhất là trong công tác xây dựng tổ chức chi, tổ Hội và cán bộ.

- Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của công tác tổ chức xây dựng Hội đề ra trong Nghị quyết đúng đắn và kịp thời, phù hợp với yêu cầu khách quan của công tác Hội và phong trào nông dân trong thời gian qua.
- Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp đã có nhiều nỗ lực trong việc tham mưu cơ chế chính sách, đổi mới phương thức hoạt động, đẩy mạnh tổ chức hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân, chủ động tìm kiếm, khai thác các nguồn lực phục vụ cho hoạt động Hội và phong trào nông dân.
- Đội ngũ cán bộ Hội các cấp ngày càng trưởng thành, có trình độ, năng lực, kinh nghiệm công tác.

2.2. Nguyên nhân của hạn chế
- Trình độ, năng lực, phương pháp, kỹ năng công tác của một số cán bộ Hội còn chưa đáp ứng được yêu cầu chung của công tác Hội hiện nay; nhiều đơn vị thiếu nguồn nhân lực hoạt động, cán bộ thường xuyên biến động, thay đổi, biên chế được phân bổ thấp, nhất là đối với biên chế sự nghiệp của Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân.

- Chi hội được tổ chức theo thôn, ấp, bản nên nhìn chung có số lượng đông (có những chi hội ở vùng đồng bằng có từ 500 đến 600 hội viên) không thể tổ chức sinh hoạt theo chi hội được vì không có địa điểm họp đáp ứng nhưng lại không thực hiện chia tách tổ theo chủ trương chỉ đạo chung.

- Chế độ phụ cấp cho cán bộ Hội không chuyên trách ở cơ sở đã được quan tâm nhưng còn thấp, phụ thuộc vào nguồn ngân sách của tỉnh và do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt nên chưa động viên, khuyến khích, tạo động lực làm việc cho cán bộ Hội cơ sở. Còn một số nơi, chi hội trưởng chưa có phụ cấp .

- Điều kiện và phương tiện làm việc ở cấp huyện và cơ sở còn nhiều khó khăn, trên 70% cơ sở còn chung phòng làm việc từ 2 - 4 đoàn thể, máy vi tính và điện thoại phục vụ công tác chưa được trang bị phổ cập. Kinh phí hoạt động của các cấp Hội còn nhiều khó khăn, nhất là cấp cơ sở, nhiều cơ sở chỉ được cấp kinh phí hoạt động từ 2 - 3 triệu đồng/năm; mức khoán kinh phí trên chỉ tiêu biên chế chưa phù hợp với cán bộ làm công tác vận động quần chúng, thường xuyên đi cơ sở và tổ chức nhiều hoạt động phong trào.

3. Một số kinh nghiệm
Một là, công tác cán bộ là khâu then chốt, vì vậy phải đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội. Đồng thời, luôn luôn đổi mới phương thức hoạt động của Hội phù hợp với sự vận động của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế.

Hai là, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền và sự phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể là điều kiện quan trọng để xây dựng Hội vững mạnh về mọi mặt.

Ba là, mục tiêu, nhiệm vụ công tác tổ chức xây dựng Hội phải gắn chặt với phong trào nông dân, nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, từng bước đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của hội viên, nông dân; coi trọng tính thiết thực, hiệu quả trong hoạt động.

Bốn là, sự chủ động trong tham mưu, chỉ đạo thường xuyên, kiên trì, biết chọn khâu đột phá, quyết liệt trong tổ chức thực hiện của các cấp Hội là yếu tố quyết định đảm bảo cho sự thành công của Nghị quyết.

Năm là, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện sơ, tổng kết Nghị quyết, tiến hành rà soát, đánh giá các chỉ tiêu trong thực hiện Nghị quyết theo từng năm, từng giai đoạn.
 
Phần thứ hai
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TIẾP TỤC THỰC HIỆN 
NGHỊ QUYẾT SỐ 06-NQ/HNDTW TRONG THỜI GIAN TỚI
 
I. TÌNH HÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI
Trong những năm tới, tình hình kinh tế - xã hội nước ta vẫn đứng trước những khó khăn, thách thức. Nông nghiệp nước ta tiếp tục chịu áp lực cạnh tranh rất lớn, trình độ văn hóa, tay nghề, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Do tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh, nông dân khu vực nông nghiệp sẽ ngày càng giảm dần về số lượng để chuyển sang khối ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nhưng chất lượng tăng lên. Hội viên, nông dân nước ta sẽ có cơ hội và điều kiện nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp và nhận thức về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm ngày càng lan tỏa trong nông dân. Tuy nhiên, tình trạng thiếu đất, thiếu việc làm cùng với ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, cạnh tranh của cơ chế thị trường… làm phân hóa giàu nghèo diễn ra nhanh hơn, tác động sâu sắc đến sản xuất, đời sống của một bộ phận nông dân và nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn. Số hội viên, nông dân rời quê hương lên thành phố, các khu công nghiệp, các địa phương có nhiều việc làm, thu nhập cao để tìm việc làm ngày càng tăng.

Tình hình trên đòi hỏi tổ chức Hội Nông dân các cấp phải vươn lên ngang tầm nhiệm vụ, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và hoạt động, đáp ứng những yêu cầu mới từ thực tiễn đặt ra về nâng cao nhận thức, trình độ sản xuất, quản lý, kinh doanh và ý thức trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của hội viên, nông dân.

II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 
1. Đẩy mạnh tuyên truyền tới đông đảo hội viên nông dân về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, về công tác Hội và phong trào nông dân gắn với việc thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuyên truyền vận động cán bộ, hội viên thực hiện Chỉ thị 03-CT/BCT về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

2. Chú trọng nâng cao chất lượng hội viên. Tập trung các giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Hội, đặc biệt là nâng cao chất lượng sinh hoạt, hoạt động của chi Hội, tổ Hội. Chỉ đạo nhân rộng mô hình chi, tổ hội nghề nghiệp, gắn nội dung sinh hoạt, hoạt động của chi, tổ hội với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hội viên nông dân. Quan tâm phát triển các câu lạc bộ theo nhu cầu, sở thích của hội viên. Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức chi hội vùng ven đô thị, trong ngư dân vùng ven biển phù hợp, hiệu quả. Trung ương Hội xây dựng Đề án “Mô hình tổ chức và hoạt động của tổ hội nghề nghiệp” để tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, hoàn thiện mô hình và triển khai trong những năm sắp tới.

3. Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội các cấp có kỹ năng, nghiệp vụ công tác Hội, năng động, sáng tạo, tâm huyết, trách nhiệm. Tích cực, chủ động tham mưu với cấp ủy và phối hợp với chính quyền các cấp trong quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ. Xây dựng Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân các cấp” giai đoạn 2016 - 2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để triển khai thực hiện. Đổi mới công tác đào tạo cán bộ; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Trường cán bộ Hội Nông dân Việt Nam; sửa đổi, bổ sung giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thiết thực, chú trọng kỹ năng, nghiệp vụ

4. Phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương ban hành hướng dẫn thực hiện Quy định 282 - QĐ/TW ngày 01/4/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện.

5. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua; mở rộng các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ cho nông dân về vốn, cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp, tiếp cận khoa học kỹ thuật, thông tin trong phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; vận động, hướng dẫn nông dân tham gia các hình thức kinh tế tập thể, tổ hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ hàng hóa; nhân rộng mô hình trang trại tổng hợp. Trên cơ sở đó tuyên truyền, vận động, tập hợp, chăm lo, hỗ trợ hội viên, nông dân, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh.

6. Nâng cao hiệu quả lãnh đạo và năng lực tham mưu của Ban chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp, nhất là vai trò của người ddwuwngs đầu đối với cấp ủy Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác Hội; Mở rộng mối quan hệ với chính quyền, các ngành, các đoàn thể, phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; khai thác các nguồn lực cho Hội và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện, kinh phí cho hoạt động Hội. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề ánNâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020”.

7. Khen thưởng, động viên kịp thời các điển hình tiên tiến, tuyên truyền nhân rộng và tạo sức lan tỏa các phong trào thi đua, các mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Nâng cao chất lượng, uy tín và hiệu quả của các giải thưởng và  hình thức tôn vinh, khen thưởng trong hệ thống Hội.

8. Nghiên cứu, xem xét sửa đổi một số qui định trong Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Hội khóa VI cho phù hợp với thực tiễn. Sửa đổi Hướng dẫn số 413-HD/HNDTW của Ban Thường vụ Trung ương Hội về “Hướng dẫn đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Hội”.
 
                                
Nơi nhận:  
- TT Ban Bí thư TƯ Đảng;
- Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức,
  Ủy ban Kiểm tra, Văn phòng TƯ Đảng;
- Các đồng chí Ủy viên BCH TW Hội;
- Các ban, đơn vị TW Hội;
- Các tỉnh, thành Hội;
-Lưu VP.                                                                  
T/M BAN CHẤP HÀNH   
        CHỦ TỊCH
 
 
           (Đã ký)
 
 
 
Nguyễn Quốc Cường
 
Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
41.410
41.630
Vàng nhẫn
41.360
41.790
Vàng nhẫn
41.360
41.890
Tỷ giá
EUR
26322
GBP
30123.58
USD
23260