Thứ bảy, 04/04/2020 (GMT+7)
Giá nông sản
Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư TW Đảng về Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2020"
02:16 - 14/02/2015

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

*

Số 07 - BC/HNDTW

 

 

Hà Nội, ngày 26 tháng 01 năm 2015

BÁO CÁO

Sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư

Trung ương Đảng về Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”.

 
 

5 năm qua thực hiện Kết luận số 61-KL/TW ngày 03/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020” (gọi tắt là Đề án Hội Nông dân) và 3 năm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ; trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu chậm khắc phục, tình hình an ninh thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, xung đột xảy ra ở nhiều nơi; cùng với những khó khăn nội tại của kinh tế trong nước; chủ trương cắt, giảm đầu tư công, tiết kiệm chi tiêu. Song, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quan tâm, phối hợp của các bộ, ngành ở trung ương, các cấp chính quyền; cùng với sự cố gắng nỗ lực của các cấp Hội và cán bộ, hội viên, nông dân cả nước, chúng ta đã giành được những kết quả quan trọng.

 

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN HỘI NÔNG DÂN,

KẾT LUẬN SỐ 61-KL/TW CỦA BAN BÍ THƯ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

VÀ QUYẾT ĐỊNH SỐ 673/QĐ-TTg CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 

I- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án Hội Nông dân,Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)“Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Bộ Chính trị giao cho Đảng đoàn Trung ương Hội Nông dân Việt Nam xây dựng Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”. Đề án đã được Ban Bí thư Trung ương Đảng thông qua và ban hành Kết luận số 61-KL/TW, ngày 3/12/2009 để chỉ đạo thực hiện.

 

Ngay sau khi Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng được ban hành, Trung ương Hội và các cấp Hội đã xây dựng chương trình thực hiện Đề án; Đảng đoàn, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã chủ động làm việc với các bộ, ngành liên quan thống nhất xây dựng Đề án “Xây dựng cơ chế, chính sách để Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp với các bộ, ngành thực hiện một số chương trình, đề án trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011-2020”. Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua và ban hành Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011-2020.

 

Để triển khai thực hiện Đề án Hội Nông dân,Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam đã tham mưu cho Ban Bí thư thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Đề án 61 và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong Ban Chỉ đạo gửi các tỉnh, thành ủy, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các bộ, ban, ngành liên quan. Với trách nhiệm là cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Đề án 61, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã tham mưu giúp Ban Chỉ đạo Trung ương xây dựng Kế hoạch số 01- KH/BCĐTW ngày 15/9/2011 để chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Đồng thời, Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam ban hành Công văn số 167-CV/ĐĐHND, ngày 14/6/2011 đề nghị các tỉnh uỷ, thành uỷ phối hợp chỉ đạo thực hiện Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

 

Để lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện Đề án 61, tháng 7 năm 2011 Ban Chấp hành Trung ương Hội đã tổ chức hội nghị để phổ biến, quán triệt Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng và ban hành Kế hoạch số 671-KH/HNDTW, ngày 20/9/2011 về việc tuyên truyền, quán triệt và triển khai thực hiện Đề án 61 trong hệ thống Hội. Ban Thường vụ Trung ương Hội chỉ đạo các cơ quan Báo, Tạp chí, Website của Hội mở các chuyên trang, chuyên mục nhằm tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp của Đề án 61 tới các cấp Hội và cán bộ, hội viên, nông dân.

 

Đồng thời, tích cực, chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan để triển khai thực hiện: Ban Thường vụ Trung ương Hội gửi văn bản đề nghị các bộ, ngành liên quan phối hợp thực hiện Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và cử các đoàn công tác do các đồng chí Thường trực Trung ương Hội trực tiếp làm Trưởng đoàn làm việc với 8 bộ liên quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Công Thương để thống nhất nội dung, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp để thực hiện các nội dung trong Kết luận số 61-KL/TW và Quyết định số 673/QĐ-TTg. Chỉ đạo các ban, đơn vị chuyên môn của Trung ương Hội tích cực tham mưu xây dựng các chương trình, đề án, nghị quyết liên tịch; đến nay, 8 bộ đã ký nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam để triển khai thực hiện, bước đầu có nhiều kết quả.

 

Thực hiện chỉ đạo của Ban Thường vụ Trung ương Hội, Hội Nông dân các tỉnh, thành phố đã tích cực, khẩn trương triển khai tuyên truyền, phổ biến Kết luận số 61 và Quyết định số 673 đến các cấp Hội và có mời cấp ủy, chính quyền, các sở, ban, ngành, đoàn thể ở địa phương tham dự. Chủ động tham mưu để tỉnh, thành ủy, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thành lập Ban Chỉ đạo, ban hành văn bản chỉ đạo cấp ủy, chính quyền triển khai thực hiện Đề án 61; đến nay có 46 tỉnh, thành phố thành lập Ban Chỉ đạo, trong đó 15 tỉnh do Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm Trưởng ban, 25 tỉnh do Trưởng Ban Dân vận làm Trưởng ban, 6 tỉnh do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban. Đồng thời, chủ động làm việc với các sở, ngành ký chương trình phối hợp, nghị quyết liên tịch để trực tiếp và tham gia thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

 

II- Kết quả 5 năm thực hiện Đề án Hội Nông dân,Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và 3 năm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

1- Công tác xây dựng cơ sở vật chất của các cấp Hội

1.1- Triển khai nhiệm vụ đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở đào tạo, dạy nghề cho nông dân đạt nhiều kết quả

Sau khi có Quyết định số 673/QĐ-TTg, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã xây dựng và ban hành Quyết định số 945-QĐ/HNDTW ngày 30/12/2011 phê duyệt Đề án Quy hoạch đầu tư xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh để tổ chức thực hiện; ra Quyết định thành lập Trường Trung cấp nghề Hội Nông dân Việt Nam trên cơ sở nâng cấp từ Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ việc làm nông dân Trung ương Hội và 4 cơ sở Dạy nghề khu vực, trực thuộc Trường. Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo các tỉnh, thành Hội xây dựng đề án và đề nghị ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hoặc tỉnh, thành ủy ra quyết định thành lập mới hoặc đổi tên các Trung tâm Dạy nghề thành Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân trực thuộc các tỉnh, thành Hội theo Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng.

 

Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ về rút ngắn thời gian hoàn thành đầu tư xây dựng mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh xuống còn 5- 7 năm, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã lập kế hoạch trung hạn đến năm 2017 sẽ hoàn thành việc xây mới và nâng cấp, bổ sung trang thiết bị các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, thành phố và tiến hành điều chỉnh quy hoạch và lộ trình thực hiện các dự án ở các tỉnh, thành phố. Đồng thời, chỉ đạo Hội Nông dân các tỉnh, thành phố khẩn trương hoàn tất các thủ tục về đầu tư xây dựng và giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án; đến nay 52 tỉnh, thành phố đã bố trí mặt bằng xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân. Bằng nguồn ngân sách của Trung ương, trong 3 năm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã có 28 tỉnh, thành phố xây mới và nâng cấp Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; đã có 6 dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng; 19 tỉnh, thành phố đã bố trí biên chế cho Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân.

 

1. 2-  Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân  

Sau khi có Kết luận 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam đã tập trung xây dựng và triển khai Đề án Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến nay, Hội Nông dân Việt Nam đã kiện toàn lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ nông dân ở 03 cấp: trung ương, tỉnh, huyện. 61 tỉnh, thành Hội đã kiện toàn Ban Điều hành Quỹ cấp tỉnh; Quỹ Hỗ trợ nông dân của 40 tỉnh, thành Hội đã hoàn thành tư cách pháp nhân và có con dấu riêng; 45 tỉnh, thành Hội đã thành lập Ban Kiểm soát theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân; 38 tỉnh, thành Hội thành lập Ban vận động ủng hộ Quỹ Hỗ trợ nông dân.

 

Trong 3 năm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương được cấp bổ sung 400 tỷ đồng và 49 tỉnh, thành Hội được cấp bổ sung 573,785 tỷ đồng từ ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Đến nay, tổng Quỹ Hỗ trợ nông dân ở các cấp Hội đạt 1.709,060 tỷ đồng; trong đó Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương: 466,829 tỷ đồng, Quỹ Hỗ trợ nông dân địa phương: 1.242,231 tỷ đồng; một số tỉnh, thành Hội có Quỹ Hỗ trợ nông dân cao như: Hà Nội 451,7 tỷ; thành phố Hồ Chí Minh 102,2 tỷ; Bình Dương 61,5 tỷ; Bà Rịa - Vũng Tàu 32 tỷ; Hải Dương 30 tỷ; Vĩnh Phúc 29 tỷ; Tiền Giang 25,5 tỷ; Hưng Yên 22 tỷ; Quảng Bình 21 tỷ, Thanh Hóa 20 tỷ…  

 

Trung ương Hội đã chủ động xây dựng và ban hành các văn bản để quản lý Quỹ Hỗ trợ nông dân như: Quy chế hoạt động của Ban Kiểm soát Quỹ Hỗ trợ nông dân; Quy định về hoạt động kiểm soát Quỹ Hỗ trợ nông dân. Hướng dẫn củng cố Ban Vận động, Ban Điều hành Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, cấp huyện; bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản về xây dựng, quản lý, điều hành hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân. Trung ương Hội đề xuất và phối hợp với Bộ Tài chính soạn thảo Thông tư và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 69/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc hệ thống Hội Nông dân Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ 15/7/2013) thay thế Thông tư 36/2002/TT-BTC, ngày 22/4/2002 của Bộ Tài chính. Đồng thời, chỉ đạo thực hiện việc đổi mới phương thức hỗ trợ vốn cho nông dân, từ cho vay nhỏ lẻ, sang cho vay theo dự án để xây dựng các mô hình kinh tế tập thể (nhóm liên kết giữa các hộ) theo hình thức cho vay có hạn mức, có kỳ hạn, với mức thu phí hiện nay 0,7%/tháng đối với vay trung hạn.

 

2- Kết quả thực hiện nhiệm vụ nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp

2.1-Tổ chức mở rộng các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân

a- Dịch vụ về vốn và cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp

Trong 5 năm qua, từ nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp đã giúp cho trên 380.000 lượt hộ nông dân có vốn sản xuất, kinh doanh, với số vốn cho vay quay vòng đạt trên 5.200 tỷ đồng. Nhiều hộ nông dân được hỗ trợ vốn đã thoát nghèo, nhiều hộ vươn lên khá giàu, nhiều hộ trở thành hộ sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

 

Các cấp Hội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tạo điều kiện cho hội viên, nông dân vay vốn sản xuất, kinh doanh. Tại thời điểm 30/11/2014, Hội Nông dân đang quản lý 23.501Tổ Vay vốn theo chương trình phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, có 549.891 hộ tham gia, dư nợ gần 19.461 tỷ đồng và 65.205Tổ Tiết kiệm và vay vốn theo chương trình ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội, có 2.285.448 hộ nông dân nghèo và đối tượng chính sách khác tham gia, dư nợ 41.803 tỷ đồng thuộc 15chương trình tín dụng chính sách.

 

Ngoài ra, nhiều tỉnh, thành Hội đã tích cực phối hợp với các doanh nghiệp, công ty cung ứng vật tư nông nghiệp, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, máy nông nghiệp... theo phương thức trả chậm, trị giá hàng trăm tỷ đồng giúp cho nông dân có điều kiện sản xuất, kinh doanh.

 

b- Hỗ trợ nông dân tiếp cận với khoa học kỹ thuật 

Các cấp Hội đã chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn, các doanh nghiệp tổ chức tập huấn, khuyến nông được trên 10 triệu lượt hội viên, nông dân. Xây dựng hàng ngàn mô hình trình diễn sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và hàng trăm mô hình sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn Việt GAP; phối hợp với các công ty tổ chức hàng ngàn lớp tập huấn cho nông dân về kỹ thuật sử dụng phân bón, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp... Xây dựng “Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông”, “điểm truy cập Internet”; mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản; tổ chức Cuộc thi “Nhà nông đua tài”... đã trang bị cho nông dân kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới để áp dụng vào sản xuất, kinh doanh.

 

Phối hợp với các nhà khoa học, các trung tâm nghiên cứu chuyển giao hàng trăm tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp và hơn 300 mô hình ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân tại các xã, phường dưới hình thức các Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông; tổ chức cuộc thi tôn vinh Nhà nông sáng tạo, đã có hàng trăm sáng kiến, giải pháp kỹ thuật của nông dân được giải thưởng và ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất như: máy làm đất, máy gieo hạt, máy tưới cây, máy bón phân, máy phun thuốc trừ sâu, máy bóc lạc, máy tẽ ngô, máy sấy hạt...

 

c- Dịch vụ hỗ trợ thông tin và xây dựng thương hiệu sản phẩm

Phối hợp với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng kết nối thông tin giá cả vật tư nông nghiệp, hàng hóa nông sản, tình hình dịch, bệnh cây trồng, vật nuôi, qua đó góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, kỹ năng sản xuất cho cán bộ, hội viên, nông dân và chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp. Phối hợp với Bộ Công thương, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và các đơn vị có liên quan xây dựng Đề án sản xuất thử nghiệm “Hoàn thiện hệ thống thông tin để kiểm soát chủ động hàng giả trong lĩnh vực sản phẩm và vật tư nông nghiệp”.

 

Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí và các ngành chức năng mở “Chuyên mục chuyện Nhà nông” phát trên kênhVTV1 từ 5h48 - 6h00 hàng ngày, đã giúp nông dân nắm bắt kịp thời thông tin về thị trường, khoa học kỹ thuật, những mô hình sản xuất nông nghiệp điển hình. Thông qua các hoạt động phối hợp với các doanh nghiệp, công ty tổ chức Lễ tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu; xây dựng Hệ thống “Sàn kết nối cung cầu nông nghiệp, thực phẩm”; Chương trình tăng cường cung cấp thông tin cho nông dân trồng lúa 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; tổ chức các Hội chợ triển lãm nông nghiệp, thương mại nhằm quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, tạo niềm tin đối với người tiêu dùng, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp.

 

2.2- Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể, hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ hàng hóa; tích tụ ruộng đất, hình thành vùng sản xuất hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi tạo sản phẩm có giá trị cao

Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn; Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNDTW, ngày 29/7/2011 về đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và hướng dẫn phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011- 2020. Các cấp Hội tổ chức tuyên truyền được 110.250 cuộc cho hơn 8,82 triệu lượt hội viên, nông dân về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế tập thể.

 

Trung ương Hội đã phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư mở các lớp bồi dưỡng cho 1.715 cán bộ Hợp tác xã, Tổ hợp tác tại 43 tỉnh, thành phố. Các tỉnh, thành Hội chủ động phối hợp và trực tiếp tổ chức 3.900 lớp tập huấn kiến thức về kinh tế tập thể cho 127.970 lượt cán bộ Hội. Đồng thời, tích cực vận động, hỗ trợ, hướng dẫn hội viên, nông dân xây dựng và phát triển các loại hình kinh tế tập thể phù hợp với từng địa bàn, từng ngành nghề và trình độ phát triển ở từng khu vực. Đến nay, các cấp Hội đã vận động, thành lập được 5.900 tổ hợp tác và 72 hợp tác xã sản xuất và dịch vụ trong các lĩnh vực: thủy nông, làm đất, bảo vệ thực vật, thu hoạch, cung ứng vật tư, chăn nuôi, chế biến, tiêu thụ nông sản và các lĩnh vực chuyên ngành theo sở thích...

 

Trung ương Hội đã phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện chính sách của Chính phủ về tiêu thụ nông sản hàng hóa cho nông dân, tham gia xây dựng mô hình thí điểm tiêu thụ nông sản, cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp... Đặc biệt, Hội Nông dân thành phố Hà Nội đã ký Chương trình phối hợp với 13 tỉnh, thành Hội để tuyên truyền, phổ biến mô hình, học hỏi kinh nghiệm; giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

 

Các cấp Hộiđã tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân thực hiện “dồn điền, đổi thửa”; tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khai thác tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, vốn liếng để đầu tư phát triển sản xuất; phát triển kinh tế tập thể, các tổ hợp tác, liên kết giữa các hộ đã tích tụ, tập trung được đất đai, tiền vốn, năng lực quản lý; hình thành các mô hình chuyên canh, tạo ra sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao như: mô hình cánh đồng mẫu lớn trồng lúa Bắc thơm huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên; mô hình sản xuất giống hoa và hoa thương phẩm chất lượng cao huyện Mê Linh, Hà Nội; sản xuất thâm canh chè gắn với sơ chế biến tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; bưởi da xanh ở tỉnh Bến Tre; bưởi Năm roi Tài- Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; Thanh long ở tỉnh Bình Thuận; trồng Măng tây ở tỉnh Ninh Thuận; chăn nuôi gà Đông Tảo ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; nuôi Tôm hùm trong lồng ở Khánh Hòa...

 

3- Kết quả thực hiện nhiệm vụ nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới

Thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 và Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/HNDTW ngày 29/7/2011 về Hội Nông dân tham gia thực hiện Chương trình, mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020. Các cấp Hội đã chủ động tham gia trong việc xây dựng quy hoạch và giám sát quá trình thực thi quy hoạch để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nông dân; phổ biến, tuyên truyền rộng rãi để hội viên, nông dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới bám sát Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; nhiều tỉnh, thành Hội đã chủ động đăng ký tham gia thực hiện một số tiêu chí trong nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới nhất là về xây dựng thiết chế văn hóa, đường giao thông nông thôn, công trình thuỷ lợi nội đồng quy mô nhỏ và xây dựng các mô hình cấp nước sạch, thu gom xử lý rác thải, vệ sinh môi trường.

 

Thông qua Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, hội viên nông dân tham gia bằng những việc làm thiết thực như: hiến hàng ngàn m2 đất và đóng góp trên 2 ngàn tỷ đồng, trên 40 triệu ngày công để làm mới và sửa chữa gần 350 ngàn km đường giao thông nông thôn, 200 ngàn km kênh mương nội đồng và hàng ngàn nhà văn hóa xã, thôn, ấp, bản... Tính đến hết năm 2014  cả nước đã có 96,4% số xã phê duyệt xong đề án xây dựng nông thôn mới, 785 xã hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, tỷ lệ hộ nghèo giảm khoảng 2%/năm, đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn được cải thiện.

 

Các cấp Hội đã tổ chức cho cán bộ, hội viên, nông dân thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” gắn với xây dựng nông thôn mới; tích cực vận động hội viên, nông dân thực hiện tiêu chí “Làng văn hóa”, xây dựng gia đình văn hóa, tham gia các câu lạc bộ gia đình nông dân văn hoá, gia đình nông dân hạnh phúc; thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang và tổ chức lễ hội; phòng, chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự, an ninh trên địa bàn nông thôn và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao: các Hội thi “Tiếng hát đồng quê”, các giải Bóng chuyền, Bóng đá nông dân, các cuộc thi “Nhà nông đua tài”, “Nhà nông với pháp luật”… Hằng năm có khoảng 8 triệu hộ gia đình nông dân đạt danh hiệu gia đình văn hóa.

 

Trung ương Hội tăng cường hướng dẫn nông dân tham gia bảo vệ môi trường nông thôn. Hằng năm, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức các buổi mít tinh hưởng ứng các chương trình quốc gia về bảo vệ môi trường; phòng, chống ma túy, kế hoạch hóa gia đình… thu hút hàng chục ngàn người tham gia. Các tỉnh, thành Hội tổ chức khoảng 2.000 lớp tập huấn cho gần 100.000 lượt cán bộ Hội các cấp; khoảng 26.400 cuộc truyền thông ở cộng đồng cho gần 3 triệu lượt hội viên, nông dân; duy trì hoạt động hiệu quả hơn 30.000 tổ, nhóm, câu lạc bộ nông dân với công tác xã hội, dân số, gia đình…

 

4- Kết quả thực hiện nhiệm vụ nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân trong xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam

4.1- Công tác tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn 

Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”; Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về tăng cường công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân giai đoạn 2012- 2017; các cấp Hội đã tích cực triển khai thực hiện, đạt kết quả thiết thực: Từ năm 2009 đến nay các cấp Hội đã phối hợp và trực tiếp tổ chức dạy nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên được 33.593 lớp với 1.074.976 người tham gia; trong đó trực tiếp dạy nghề và cấp chứng chỉ, giấy chứng nhận cho 180.736 người; phối hợp tổ chức dạy nghề cho 894.240 người. Tỷ lệ dạy nghề nông, lâm, ngư nghiệp, thủy sản chiếm 80%; dạy nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 15% và dạy nghề du lịch, dịch vụ chiếm 5%. Tỷ lệ nông dân sau khi học nghề có việc làm và thu nhập ổn định trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, thủy sản, công nghiệp, thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ đạt trên 80%. Những địa phương tổ chức dạy nghề đạt kết quả cao như tỉnh: An Giang, Hải Dương, Lai Châu, Nghệ An, Hà Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Lâm Đồng, Long An, thành phố Hồ Chí Minh...

 

Được sự tạo điều kiện của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ năm 2012 đến nay Trung ương Hội được cấp 15,2 tỷ đồng để tổ chức dạy nghề cho nông dân theo mô hình dạy nghề gắn với phát triển các mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi. Trường Trung cấp nghề và 17 Trung tâm Dạy nghề của các tỉnh, thành Hội tổ chức dạy nghề được 352 lớp, với 12.320 người. Xây dựng được 437 mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi, trong đó có 365 mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản; 72 mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi trong lĩnh vực phi nông nghiệp.

 

Sau khi học nghề nhiều nông dân đã mạnh dạn đầu tư vốn, mở mang ngành nghề mới, củng cố các nghề truyền thống, đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng mẫu lớn; tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm hàng hóa, thu nhập, góp phần xây dựng nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nhiều hộ nghèo trở thành hộ khá, nhiều hộ khá trở thành hộ giàu, đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

 

4.2- Tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Tham gia giám sát và phản biện xã hội

Từ thực tiễn đời sống và tâm tư, nguyện vọng của nông dân, các cấp Hội đã tích cực tham gia phản biện cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn như: Chính sách bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo vệ môi trường; chính sách đất đai; chính sách kinh doanh, xuất khẩu gạo... sửa đổi các thủ tục cho vay vốn theo Quyết định số 497/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; bổ sung đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng theo Nghị định số 41/NĐ-CP của Chính phủ; bổ sung, chỉnh sửa Nghị định số 61/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; đề xuất có cơ chế, chính sách đặc thù giúp ngư dân bám biển sản xuất và bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Đặc biệt các cấp Hội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, dự thảo Luật Hợp tác xã, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; các cấp Hội đã tổ chức cho hội viên, nông dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các đề án, chương trình phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương, quy hoạch đất đai, xây dựng nông thôn mới.

 

Thông qua thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, các cấp Hội đã tạo điều kiện giúp hội viên, nông dân phát huy dân chủ trực tiếp được tham gia giám sát các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nhất là thực hiện các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; dự án đầu tư, phương án đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư; giải quyết việc làm khi bị thu hồi đất; tham gia giám sát thu, chi, sử dụng tài chính, ngân sách và các khoản đóng góp của nhân dân nhất là trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; giám sát và phản biện kịp thời việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

 

Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW và số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI), Ban Thường vụ Trung ương Hội đã xây dựng Kế hoạch số 458-KH/HNDTW, ngày 23/5/2014 về triển khai thực hiện Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị- xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; các cấp Hội đã xây dựng kế hoạch triển khai, tích cực tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia thực hiện. Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã ký Chương trình phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung ương các đoàn thể chính trị- xã hội năm 2014; ký Chương trình phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công thương về giám sát việc thực hiện pháp luật sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp giai đoạn 2014-2020.

 

4.3- Tích cực xây dựng, củng cố tổ chức Hội; đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ, hội viên

Thực hiện Nghị quyết số 06- NQ/HNDTW ngày 19/7/2010 của Ban Chấp hành Trung ương Hội về tiếp tục xây dựng tổ chức Hội các cấp vững mạnh. Các cấp Hội thường xuyên quan tâm kiện toàn củng cố tổ chức Hội, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động nâng cao chất lượng hoạt động của các chi, tổ Hội và hội viên. Nhiều loại hình tập hợp mới được triển khai theo các nhóm ngành nghề, nhóm sở thích; các tổ, nhóm sản xuất, vay vốn, tiết kiệm: “Tổ hùn vốn làm nhà”, “Tổ an ninh nhân dân”, “Tổ tín dụng, tiết kiệm”, “Câu lạc bộ khuyến nông”; “Tổ đoàn kết bám biển”, “Câu lạc bộ nông dân với pháp luật”... 5 năm qua, đã kết nạp được trên 2 triệu hội viên mới; nâng tổng số hội viên tính đến 30/12/2014 là 10,169  triệu, tăng 4,4% so với năm 2008. Đến nay, 100% thôn, ấp, bản có nông dân có tổ chức Hội với 95.246 chi Hội, 200.630 tổ Hội thuộc 10.545 cơ sở Hội. Tổ chức bộ máy của Hội Nông dân các cấp được kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; chất lượng hoạt động của các sơ sở Hội và chi, tổ Hội được nâng lên.

 

Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã có Công văn số 663-CV/HNDTW ngày 21/7/2014 đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương Đảng xem xét bố trí biên chế Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ trong Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay Đề án Hướng dẫn về tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện chưa được phê duyệt.

 

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ Hội các cấp tiếp tục được quan tâm thực hiện. Ngay sau khi có Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Hội Nông dân Việt Nam đã xây dựng Đề án Đào tạo cán bộ Hội cơ sở, trình Thủ tướng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1045/QĐ-TTg ngày 07/7/2010 phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2015; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 01- NQ/HNDTW, ngày 25/01/2011 về công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ giai đoạn 2011- 2015. 5 năm qua Trung ương Hội được Chính phủ cấp gần 29 tỷ đồng để tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội cấp cơ sở. Kết quả, đến nay Trường Cán bộ Hội tổ chức được16 lớp đào tạo trình độ Trung cấp ngành Công tác xã hội, chuyên ngành Công tác Hội Nông dân cho 1.210 cán bộ Hội các cấp; 13 lớp bồi dưỡng (thời gian 01 tháng) cho 910 cán bộ Hội cấp tỉnh, cấp huyện, đạt 83%; 3 lớp bồi dưỡng (thời gian 10 ngày) cho 210 giảng viên kiêm chức, đạt 82% chỉ tiêu Đề án. Các tỉnh, thành Hội trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng được 11.945 cán bộ; trong đó: 376 các bộ các cấp Hội có trình độ Trung cấp ngành Công tác xã hội, 2.055 cán bộ Hội cơ sở(thời gian đào tạo 03 tháng); 9.514 cán bộ (thời gian đào tạo 5-7 ngày) chủ yếu là cơ sở và chi, tổ Hội.

 

Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được đổi mới; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ Hội cơ sở, chi, tổ Hội, cán bộ Hội là người dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo. Qua đó, đã từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân trong tình hình mới.

 

III- Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm

1- Đánh giá chung

 5 năm qua, mặc dù tình hình kinh tế- xã hội nước ta gặp không ít khó khăn, thách thức, những yếu kém nội tại của nền kinh tế chậm được khắc phục; mức tăng trưởng kinh tế không cao; nợ công, nợ đọng thuế, nợ xây dựng cơ bản còn cao; cân đối ngân sách hàng năm đều không đạt... Nhưng các cấp Hội đã quyết tâm, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn; chủ động tham mưu và tổ chức thực hiện Đề án Hội Nông dân,Kết luận số 61 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ đã đạt được những kết quả nổi bật:

 

Các cấp Hội đã làm tốt công tác tuyên truyền, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ, hội viên, nông dân về chủ trương, quan điểm của Đảng đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về vai trò, nhiệm vụ của tổ chức Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam.

 

Tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền để tổ chức thực hiện các nội dung của Đề án cũng như Kết luận số 61 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ; tranh thủ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cấp chính quyền trong việc bố trí mặt bằng đầu tư xây dựng mới, nâng cấp và bổ sung trang thiết bị cho các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân; bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương và các cấp Hội; phối hợp chặt chẽ với 10 bộ, ngành Trung ương để ký và triển khai Chương trình phối hợp với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; hầu hết các sở, ban, ngành của tỉnh và uỷ ban nhân dân cấp huyện đã ký chương trình phối hợp với Hội Nông dân cùng cấp để triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương. Đã tạo được  nguồn lực to lớn để các cấp Hội tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân, hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp; đẩy mạnh 3 phong trào thi đua lớn của Hội nhất là Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững tiếp tục phát triển cả bề rộng và chiều sâu, có sức lan tỏa, lôi cuốn, khích lệ hội viên, nông dân tích cực tham gia; Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới đã khẳng định vai trò chủ thể của nông dân. Từ các phong trào thi đua đã xuất hiện hàng ngàn tấm gương nông dân điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh giỏi, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh; hình thành các mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại, gia trại, tổ hợp tác liên kết nhau trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao được nhân rộng.

 

Hội Nông dân các cấp ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng; hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Hội, chi, tổ Hội và chất lượng hội viên được nâng lên; công tác cán bộ có nhiều chuyển biến tiến bộ, trình độ, năng lực cán bộ được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

 

Những kết quả đạt được trong 5 năm qua khẳng định Đề án Hội Nông dân,Kết luận số 61 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ đã nhanh đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả, lợi ích thiết thực cho hội viên, nông dân; nâng cao vị thế, vai trò của Hội Nông dân Việt Namlà trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, nông dân; thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

 

Đạt được những kết quả trên nguyên nhân chủ yếu là: Có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, sự tạo điều kiện của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự phối hợp của các bộ, ngành ở trung ương và các sở, ngành địa phương; sự tích cực kiểm tra, đôn đốc thực hiện của Ban Chỉ đạo Đề án 61 Trung ương và Ban Chỉ đạo của các địa phương. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hội và Hội Nông dân các cấp cùng với sự nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ, hội viên nông dân.

 

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Đề án Hội Nông dân,Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ còn một số hạn chế, thiếu sót:

- Một số tỉnh, thành Hội chưa tích cực chủ động tham mưu cho cấp ủy, phối hợp với chính quyền địa phương; do vậy công tác triển khai thực hiện Đề án Hội Nông dân, Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ còn chậm, thiếu nguồn lực và cơ chế hoạt động: nhất là việc kiện toàn củng cố bộ máy tổ chức, biên chế cho Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân, pháp nhân Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, huyện và việc tổ chức vận động phát triển, bổ sung vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân. Tiến độ xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân chưa đạt kế hoạch đề ra do khó khăn về kinh phí. Việc bố trí mặt bằng để xây dựng các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, cả nước mới có 52 tỉnh, thành Hội được cấp đất.

 

- Công tác tuyên truyền về Kết luận số 61 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ chưa sâu, rộng nhất là cấp huyện và cấp xã; nhiều cán bộ Hội cấp huyện, cấp cơ sở chưa biết đến Đề án của Hội Nông dân và 2 văn bản này, thậm chí nhiều nơi cấp ủy, chính quyền và các sở, ngành cũng chưa biết hoặc chưa nhận thức rõ về Kết luận số 61 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ, nên việc thực hiện còn chậm và đạt kết quả thấp. Những tỉnh, thành phố chưa thành lập Ban Chỉ đạo thì việc triển khai thực hiện kết quả không cao. Hiện nay, còn 14 tỉnh chưa bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh là: Cao Bằng, Điện Biên, Yên Bái, Hà Nam, Phú Yên, Đắk Lắk, Kon Tum, Gia Lai, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Sóc Trăng. Nhiều tỉnh có cấp nhưng số lượng rất hạn chế. Tỷ lệ địa phương cấp kinh phí cho Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp huyện còn thấp.

 

- Còn một số nội dung trong Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam, giai đoạn 2010-2020” chưa được thực hiện như: Việc hướng dẫn tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan Hội Nông dân Việt Nam cấp tỉnh, huyện; chưa triển khai xây dựng Đề án “Mẫu người nông dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”; Đề án “Nâng cao năng lực truyền thông của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”.

 

- Vai trò giám sát, phản biện xã hội và các vấn đề liên quan đến nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới còn hạn chế, lúng túng trong phương pháp và cách làm.

 

- Mục tiêu nâng cao đời sống của nông dân chưa đạt yêu cầu đề ra, sự thụ hưởng của nông dân còn thấp. Một số nơi đời sống của cư dân nông thôn còn nhiều khó khăn, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền có xu hướng gia tăng, kết quả xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn chưa bền vững; nông dân vẫn khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ phúc lợi xã hội (y tế, giáo dục, văn hóa, dịch vụ về vốn, khoa học kỹ thuật, pháp lý...). Chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn chưa cao, vai trò chủ thể, trách nhiệm của nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới chưa được phát huy đầy đủ.

 

- Một số tỉnh, thành Hội việc phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh còn gặp khó khăn. Nguyên nhân do công tác tham mưu, xác định nội dung phối hợp còn lúng túng, còn thụ động, trông chờ, ỷ lại sự chỉ đạo của tỉnh ủy, thành ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; bên cạnh đó, nhiều sở, ban, ngành địa phương chưa nhận thức đúng về trách nhiệm thực hiện Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nên chưa tích cực chủ động hợp tác với Hội Nông dân cùng cấp. Một số tỉnh chưa có chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo.

 

2- Bài học kinh nghiệm

Một là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các bộ, ban, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương và các cấp Hội, cán bộ, hội viên, nông dân tạo sự đồng thuận cao trong thực hiện Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

 

Hai là, các cấp Hội tích cực, chủ động tham mưu, bám sát, tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy, sự tạo điều kiện của các cấp chính quyền, sự phối hợp của các sở, ngành để thực hiện Kết luận số 61 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ. Kinh nghiệm cho thấy: những địa phương, Thường trực, Ban Thường vụ Hội Nông dân, các cán bộ trực tiếp phụ trách từng lĩnh vực tâm huyết, trách nhiệm, tích cực bám sát, chủ động tham mưu, kiên trì thuyết phục tỉnh, thành ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, biết lựa chọn nội dung phối hợp cụ thể, thiết thực với các sở, ngành thì công tác triển khai thực hiện Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đạt kết quả cao.

 

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân với nội dung Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; phải xuất phát từ lợi ích thiết thực, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên, nông dân để tuyên truyền, vận động. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng mạnh về cơ sở; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện ở các địa phương; kịp thời sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm và nhân rộng các điển hình tiên tiến.

 

Bốn là, thường xuyên củng cố nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội Nông dân các cấp; chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội các cấp có đủ năng lực, phẩm chất, tâm huyết, nhiệt tình đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Hội là nhân tố quyết định đến triển khai thực hiện Đề án của Hội Nông dân Việt Nam, Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

 

Phần thứ hai

NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP GIAI ĐOẠN 2015-2020, MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

 

I- Nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2015- 2020 

Trong những năm tới, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án Hội Nông dân, Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ; nhiệm vụ và giải pháp của Hội Nông dân Việt Nam được xác định như sau:

 

1- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở đó, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về Đề án của Hội Nông dân Việt Nam, Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống Hội.

 

2- Tiếp tục làm việc với những tỉnh, thành phố chưa thành lập Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân để đẩy nhanh tiến độ thành lập và tạo điều kiện về mặt bằng để xây dựng Trung tâm; quan tâm bố trí biên chế sự nghiệp cho Trung tâm hoạt động.

 

Đôn đốc chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ việc xây dựng và đưa vào sử dụng các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân tại các tỉnh, thành phố để chủ động đào tạo nghề cho nông dân.

 

Triển khai xây dựng và thực hiện Đề án Mẫu người nông dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Đề án Nâng cao năng lực truyền thông của Hội Nông dân Việt Nam, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

 

3- Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, dịch vụ, dạy nghề và hỗ trợ nông dân; trọng tâm là triển khai thực hiện tốt các chương trình, đề án, dự án đã ký kết với các bộ, sở, ban, ngành liên quan.

 

Tích cực hướng dẫn hội viên, nông dân tham gia thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới bằng các biện pháp phù hợp, chú trọng vào tiêu chí tăng thu nhập, nâng cao mức sống của nông dân; vận động, hướng dẫn hội viên, nông dân phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, nâng cao quy mô sản xuất, hình thành các mô hình liên kết, xây dựng cánh đồng lớn, phát triển trang trại, gia trại. Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể, các hợp tác xã, tổ hợp tác trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản; chủ động tham gia việc chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất, nhất là các khâu giống, canh tác, bảo quản, chế biến nông sản. Tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy nghề sao cho thiết thực, hiệu quả để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, gắn với giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hội viên, nông dân.

 

4- Nâng cao hiệu quả 3 phong trào thi đua lớn của Hội, trọng tâm là Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững gắn với Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".

 

5- Tích cực tham mưu Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án 61 tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra thực hiện Kết luận 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhất là việc bố trí mặt bằng để xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh, bố trí biên chế sự nghiệp để các Trung tâm hoạt động và bổ sung ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp; việc tạo điều kiện cho Hội Nông dân trực tiếp và phối hợp tham gia thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.

 

6- Chủ động phối hợp với các bộ, ngành và các cơ quan ở trung ương và địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, nghị quyết liên tịch đã ký; trước mắt, thực hiện các nhiệm vụ giám sát việc thực hiện pháp luật sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp. Tích cực tham gia ngay từ đầu một cách có trách nhiệm với các bộ, ngành trung ương và các sở, ngành địa phương trong việc xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

 

7- Tiếp tục xây dựng, củng cố tổ chức Hội Nông dân các cấp vững mạnh. Trọng tâm là đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ Hội các cấp, đáp ứng yêu cầu là trung tâm và nòng cốt trong phong trào nông dân. Đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề, tập huấn nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, hội viên, nông dân, đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

 

8- Tăng cường mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả; hướng mạnh hoạt động hợp tác quốc tế vào nhiệm vụ giải quyết việc làm, tiêu thụ nông sản, nâng cao trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất cho nông dân và xây dựng các mô hình sản xuất, kinh doanh bền vững.

 

II- Một số đề xuất và kiến nghị

1- Kiến nghị với Đảng

- Đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo có chuyên đề nghiên cứu về sự biến động của giai cấp nông dân, qua đó có cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Nghị quyết chuyên đề về giai cấp nông dân Việt Nam trong thời kỳ mới.

 

- Đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương Đảng sớm ban hành hướng dẫn về tổ chức bộ máy, biên chế cơ quan Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện; trong đó bảo đảm biên chế sự nghiệp đối với Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh.

 

2- Kiến nghị với Chính phủ

- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ có cơ chế cho phép Hội Nông dân Việt Nam được trực tiếp đề xuất đặt hàng các nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia hàng năm. Chỉ đạo các bộ, ngành liên quan bổ sung ngân sách hàng năm cho Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương; bố trí đủ kinh phí để hoàn thành việc xây dựng mới và đầu tư nâng cấp các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh đến năm 2017 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo Kết luận số 129/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ.

 

- Tạo điều kiện các nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho nôngdân vay; thời hạn vay phù hợp từng cây trồng, vật nuôi. Có chính sách đặc thù theo vùng, miền để hỗ trợ xây dựng mô hình kinh tế hợp tác xã, tổ hợp tác nhất là trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản. Chỉ đạo các bộ, ngành tích cực phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam thực hiện các chương trình phát triển kinh tế, xã hội.

 

3- Kiến nghị với Ban Chỉ đạo Đề án 61 Trung ương

- Đề nghị Ban Chỉ đạo Đề án 61 Trung ương chỉ đạo các tỉnh, thành ủy, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố hằng năm bố trí ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân ở địa phương; bố trí mặt bằng xây dựng Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân ở các tỉnh; xem xét, bổ sung biên chế hợp lý để các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân hoạt động hiệu quả.

 

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện Đề án Hội Nông dân, Kết luận 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhất là những nơi triển khai còn chậm.

 

   Nơi nhận:

- Ban Bí thư Trung ương (để b/c),

- Ban Chỉ đạo Đề án 61,

- Các bộ, ngành liên quan,

- Các đ/c Ủy viên BCH TW Hội,

- Các tỉnh, thành Hội,

- Các ban, đơn vị TW Hội,

- Lưu.

             T/M BAN THƯỜNG VỤ

                   CHỦ TỊCH

 

                     (Đã ký)

 

 

                 Nguyễn Quốc Cường

Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
47.050
48.050
Vàng nhẫn
44.450
45.550
Vàng nhẫn
44.450
45.650
Tỷ giá