Thứ hai, 13/07/2020 (GMT+7)
Giá nông sản
Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác giai đoạn 2003 - 2012
03:08 - 31/05/2013

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

*

Số  36- BC/HNDTW

 

Hà Nội, ngày 20  tháng 5  năm 2013

                     

 

BÁO CÁO

Tổng kết 10 năm thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo

và các đối tượng chính sách khác giai đoạn 2003 - 2012

 

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ quy định “Việc cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện theo phương thức uỷ thác cho các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị - xã hội theo hợp đồng uỷ thác hoặc trực tiếp cho vay đến người vay”, ngày 15/04/2003 Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã ký Văn bản liên tịch số 235/VBLT về uỷ thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Mười năm qua, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, tạo điều kiện giúp đỡ của chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của NHCSXH và các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác ở các cấp, sự đồng thuận tham gia của người nghèo và các đối tượng chính sách khác ở nông thôn, cùng với sự nỗ lực triển khai, thực hiện của các cấp Hội, công tác ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác của Hội Nông dân Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng.

Để phối hợp với NHCSXH thực hiện tốt hơn nữa các chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, góp phần đạt được các mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và an sinh xã hội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác giai đoạn 2003 - 2012; đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng công tác ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác cho những năm tiếp theo.

A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2003 - 2012

I. Những kết quả nổi bật đã đạt được.

1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện ở các cấp

Tổ chức thực hiện tốt những nội dung công việc nhận ủy thác không chỉ góp phần chuyển tải vốn tín dụng nhanh chóng, thuận tiện đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác mà còn có tác động lớn tới công tác tuyên truyền, tập hợp nông dân và xây dựng tổ chức Hội vững mạnh. Vì vậy, ngay sau khi ký Văn bản liên tịch, Văn bản thỏa thuận, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành các văn bản hướng dẫn, tổ chức Hội nghị quán triệt và chỉ đạo các tỉnh, thành Hội ký Văn bản liên tịch với NHCSXH cấp tỉnh. Đến cuối năm 2004, 100% Hội Nông dân cấp tỉnh và cấp huyện đã ký Văn bản liên tịch với NHCSXH cùng cấp, đối với cấp xã đến 31/12/2012 đạt 98,5% tổng số HND cấp xã trong cả nước đã ký Hợp đồng ủy thác với Phòng giao dịch NHCSXH cấp huyện.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện ủy thác luôn được Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp quan tâm. Ở mỗi cấp đều phân công 01 đồng chí lãnh đạo trực tiếp phụ trách và bố trí cán bộ hoặc bộ phận chuyên trách theo dõi, tổ chức thực hiện. Công tác giao ban, sơ kết, tổng kết hoạt động ủy thác theo định kỳ ở nhiều đơn vị được thực hiện nghiêm túc. Trên phạm vi toàn quốc, ngoài việc ban hành các văn bản chỉ đạo hàng năm, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm (2004 - 2006) vào cuối năm 2006 và Tổng kết 5 năm (2004 - 2008) vào đầu năm 2009. Gần đây, cùng với NHCSXH củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã thành lập Ban Chỉ đạo củng cố, nâng cao chất lượng ủy thác các tỉnh, thành Hội vùng Tây Nam bộ giai đoạn 2012 - 2014. Một số tỉnh, thành Hội có chất lượng tín dụng ủy thác thấp cũng đã thành lập Ban chỉ đạo và xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cụ thể, sau gần một năm thực hiện, chất lượng tín dụng ủy thác đã có những chuyển biến tốt.

Để thống nhất việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn phí và hoa hồng do NHCSXH chi trả. Ban Thường vụ Trung ương Hội đã có văn bản hướng dẫn các cấp Hội sử dụng phí ủy thác thống nhất trong cả nước và xây dựng Quy chế quản lý, sử dụng phí của Trung ương Hội. Hầu hết các tỉnh, thành Hội đã xây dựng quy chế của cấp mình và hướng dẫn cấp huyện và cấp xã xây dựng quy chế quản lý và sử dụng phí ủy thác phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Về cơ bản, nguồn phí ủy thác được quản lý và sử dụng đúng quy định phục vụ cho công tác chỉ đạo và thực hiện hoạt động ủy thác.

2. Kết quả tổ chức thực hiện các công đoạn nhận ủy thác

2.1. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Để cán bộ, hội viên nông dân cả nước nói chung, các đối tượng thuộc diện được thụ hưởng nói riêng hiểu đúng và đầy đủ chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, các cấp Hội Nông dân đã làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

Hội Nông dân cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện đã phối hợp tốt với NHCSXH cùng cấp biên soạn, in ấn nhiều tài liệu tuyên truyền phù hợp. Riêng Trung ương Hội Nông dân ViệtNamđã in ấn và phát hành hàng vạn bản tài liệu tuyên truyền chuyển đến Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Ngoài ra, các cấp Hội đã sử dụng hiệu quả các phương tiện thông tin, truyền thông của Hội như: báo, tạp chí, bản tin công tác Hội, website,… và chủ động phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí của Trung ương và địa phương thường xuyên đưa tin, bài phản ánh về việc tổ chức thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước và hoạt động nhận ủy thác của Hội Nông dân. Việc tuyên truyền nêu gương, động viên, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác ủy thác, các hộ nông dân nghèo và đối tượng chính sách sử dụng vốn có hiệu quả cũng được các cấp Hội coi trọng. Một số địa phương đã tổ chức thi “Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn giỏi”… Có thể khẳng định rằng công tác tuyên truyền của Hội Nông dân các cấp đã giúp cho nông dân nhất là hộ nghèo nắm được chủ trương, chính sách, có cơ hội tham gia giám sát việc thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi; xóa bỏ mặc cảm tự ti, tâm lý trông chờ ỷ lại; phát huy nội lực phấn đấu xóa đói, giảm nghèo và vươn lên khá, giầu.

2.2. Tổ chức hướng dẫn thành lập Tổ tiết kiệm và vay vốn (Tổ TK&VV)

Tổ tiết kiệm và vay vốn là thành tố có vị trí quan trọng đặc biệt trong quy trình cho vay vốn của NHCSXH. Vì Tổ TK&VV là nơi người nghèo và các đối tượng chính sách khác được trực tiếp nghe tuyên truyền về chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, nơi diễn ra hoạt động bình xét cho vay, giám sát, hướng dẫn người vay sử dụng vốn đúng mục đích. Tổ TK&VV hoạt động hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế được những tiêu cực nảy sinh.

Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cấp Hội địa phương tuân thủ đầy đủ quy trình và thủ tục thành lập các Tổ TK&VV trên nguyên tắc tự nguyện, đoàn kết, tương trợ, cùng có lợi. Theo đó, Hội Nông dân cấp xã đã tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức họp các hộ nông dân nghèo, đối tượng được thụ hưởng chính sách tín dụng ưu đãi của nhà nước trên địa bàn thôn, ấp, bản, phum, sóc … để tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quy định của Ngân hàng và tiến hành thành lập Tổ TK&VV, bầu Ban quản lý Tổ, xây dựng Quy ước hoạt động của Tổ theo đúng Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 783/QĐ-HĐQT ngày 29/7/2003 của Hội đồng quản trị NHCSXH về tổ chức và hoạt động của Tổ TK&VV.

Mười năm qua, Hội Nông dân Việt Nam các cấp đã phối hợp chặt chẽ với NHCSXH và chính quyền địa phương thường xuyên tiến hành sắp xếp củng cố, kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của các Tổ TK&VV. Hiện nay, Hội Nông dân Việt Nam đang quản lý 69.170 Tổ TK&VV theo địa bàn dân cư với 2.405.918 thành viên, với tổng dư nợ là 37.990 tỷ đồng. Quy mô Tổ TK&VV được nâng lên hợp lý hơn, nếu trước năm 2008 bình quân một tổ chưa đến 20 thành viên, số dư nợ dưới 10 triệu đồng/thành viên, thì nay quy mô Tổ bình quân có 35 thành viên, dư nợ bình quân 18,56 triệu đồng/hộ thành viên. Số chủ hộ thành viên là hội viên nông dân chiếm trên 82%; số thành viên là nữ chiếm 31%.  

Nhìn chung, các Tổ TK&VV đã làm khá tốt các khâu bình xét hộ vay, đôn đốc hộ vay trả lãi, trả gốc và thực hiện thu lãi (đối với những Tổ được uỷ nhiệm) theo đúng hợp đồng đã ký, tỷ lệ thu lãi đúng kỳ hạn hàng tháng đạt tỷ lệ ngày càng cao (năm 2004 đạt 88,3%, năm 2012 đạt 97,8%). Số Tổ TK&VV đã triển khai hoạt động tiết kiệm tự nguyện đạt xấp xỉ 90%, số thành viên tham gia tiết kiệm tự nguyện đạt 75%/tổng số thành viên. Đến 31/12/2012 tổng số dư tiền gửi tiết kiệm tự nguyện của các thành viên thuộc các Tổ TK&VV do Hội Nông dân quản lý đạt trên 700 tỷ đồng, bình quân số dư tiền gửi tiết kiệm của mỗi Tổ đạt trên 10 triệu đồng, của mỗi thành viên là 285.000 đồng.

Chất lượng hoạt động của các Tổ TK&VV ngày càng được nâng lên, đến hết năm 2012, tỷ lệ Tổ TK&VV do Hội Nông dân quản lý xếp loại tốt đạt 54,3%; loại khá đạt 35,8%; loại trung bình là 9,4%; loại yếu kém còn 0,8%.

Một số tỉnh, thành Hội có tỷ lệ Tổ TK&VV xếp loại tốt, không có Tổ yếu kém như: Hải Dương, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lào Cai, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương…

2.3. Về dư nợ và chất lượng tín dụng ủy thác

Trong 10 năm qua, dư nợ nhận ủy thác của Hội Nông dân liên tục tăng cả về khối lượng tín dụng và số lượng các chương trình tín dụng. Tại thời điểm 31/12/2003 dư nợ đạt 3.094 tỷ đồng với 01 chương trình, nhưng đến 31/12/2012 dư nợ đạt tới 37.990 tỷ đồng (tăng 12,28 lần so với cuối năm 2003) với 14 chương trình tín dụng, chiếm tỷ trọng 34% tổng dư nợ NHCSXH ủy thác cho các tổ chức chính trị - xã hội. Mức tăng trưởng dư nợ bình quân đạt 32,43%/năm, tương ứng số tiền dư nợ tăng bình quân hàng năm là 4.218 tỷ đồng. 

Hiện tại, đơn vị có dư nợ ủy thác cao nhất là Thanh Hóa 2.403 tỷ đồng, đơn vị có dư nợ thấp nhất là Đà Nẵng 179 tỷ đồng. Cả nước có 5 đơn vị dư nợ trên 1.000 tỷ đồng (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam và ĐăkLăk), 25 đơn vị có dư nợ từ 500 tỷ đồng đến dưới 1.000 tỷ đồng, 29 đơn vị dư nợ từ 300 tỷ đồng đến 500 tỷ đồng, 4 đơn vị còn lại có dư nợ dưới 300 tỷ đồng (Đà Nẵng, Tuyên Quang, Ninh Thuận, Bình Dương).

Việc quản lý nợ và thu hồi nợ quá hạn được các cấp Hội coi trọng. Cuối năm 2004, sau khi NHCSXH hoàn tất việc nhận bàn giao từ NHNo&PTNT sang, nhiều địa phương có tỷ lệ nợ nợ quá hạn cao nhưng đã tích cực phối hợp với NHCSXH và chính quyền cơ sở phân loại, đôn đốc thu nợ nên nợ quá hạn giảm nhanh. Tại thời điểm 31/12/2004 nợ quá hạn chiếm 3,14% tổng dư nợ, nhưng đến 31/12/2012 tỷ lệ nợ quá hạn chỉ còn chiếm 1,04% tổng dư nợ. Trong đó khu vực các tỉnh, thành Hội vùng đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhất (chiếm 0,3% trên tổng dư nợ); khu vực Tây Nam bộ có tỷ lệ nợ quá hạn cao nhất cả nước (chiếm 2,5% trên tổng dư nợ). Nhiều tỉnh trong suốt 10 năm chưa năm nào nợ quá hạn vượt 0,5% trên dư nợ bình quân năm là: Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Thái Nguyên.

2.4. Công tác kiểm tra, giám sát

Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động ủy thác được các cấp Hội chú trọng. Ở Trung ương, Ban Thường vụ Trung ương Hội giao cho Quỹ Hỗ trợ nông dân trực tiếp tham mưu xây dựng bộ công cụ kiểm tra, giám sát và hướng dẫn nội dung, nghiệp vụ kiểm tra, giám sát cho cán bộ Hội được phân công phụ trách, theo dõi chương trình. Trong đó tập trung kiểm tra việc tổ chức thực hiện 06 công đoạn nhận ủy thác, kiểm tra hoạt động của Tổ TK&VV, kiểm tra người vay sử dụng vốn…, mỗi năm, Trung ương Hội thực hiện từ 25 - 30 cuộc kiểm tra đối với các tỉnh, thành Hội. Ở địa phương, Hội Nông dân cấp tỉnh và huyện đều xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng năm, phân công trách nhiệm cụ thể cho cán bộ phụ trách chương trình và phụ trách địa bàn thực hiện kiểm tra theo chuyên đề hoặc kiểm tra lồng ghép với các nội dung, chương trình công tác Hội theo định kỳ. Đảm bảo tần suất kiểm tra: đối với cấp tỉnh, thực hiện kiểm tra ít nhất 02 lần trong năm đối với 100% Hội Nông dân cấp huyện; Hội Nông dân cấp huyện thực hiện kiểm tra ít nhất 2 lần trong năm đối với 100% Hội Nông dân cấp xã; Hội Nông dân cấp xã thực hiện kiểm tra ít nhất 3 tháng một lần đối với 100% Tổ TK&VV do Hội Nông dân quản lý.

Ngoài ra, đại diện lãnh đạo Trung ương Hội, Hội Nông dân cấp tỉnh và cấp huyện tham gia Hội đồng quản trị và Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH đã thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát theo quy định. Ở cơ sở, Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp xã cũng thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của Tổ TK&VV, tham gia chứng kiến các phiên giao dịch tại Điểm giao dịch và giao ban với NHCSXH đầy đủ theo quy định.

Trong 10 năm qua, bình quân mỗi năm, các cấp Hội đã thực hiện hàng chục nghìn cuộc kiểm tra về hoạt động ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Thông qua công tác kiểm tra đã kịp thời phát hiện và có biện pháp khắc phục, xử lý những trường hợp bình xét cho vay chưa đúng đối tượng, cho vay ké; thu lệ phí sai quy định, sử dụng phí ủy thác và hoa hồng chưa đúng; chấn chỉnh công tác thống kê, theo dõi, báo cáo kết quả hoạt động ủy thác của Hội Nông dân cấp tỉnh, huyện, cấp xã; công tác lập và lưu giữ hồ sơ, sổ sách của Tổ TK&VV…

2.5. Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Hội, cán bộ Tổ Tiết kiệm và vay vốn:

Để hoàn thành tốt các công việc nhận uỷ thác, những năm qua, công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng quản lý cho cán bộ Hội Nông dân các cấp và Tổ trưởng Tổ TK&VV đã được các cấp Hội phối hợp với NHCSXH thực hiện khá tốt, trong 10 năm đã có gần 300.000 lượt cán bộ Hội các cấp và Tổ trưởng Tổ TK&VV được tập huấn.

Ở địa phương, ngoài việc phối hợp với NHCSXH tổ chức tập huấn chuyên đề các tỉnh, thành Hội đã chủ động đưa nội dung hoạt động ủy thác vào chương trình tập huấn, bồi dưỡng cán bộ Hội hàng năm.

Đối với cấp Trung ương: dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường trực Trung ương Hội, Ban điều hành Quỹ HTND Trung ương đã biên soạn tài liệu tập huấn, tài liệu tuyên truyền cung cấp cho Hội Nông dân các địa phương, hàng năm trực tiếp tổ chức từ 10 đến 15 lớp tập huấn chuyên về nghiệp vụ ủy thác cho cán bộ Hội các cấp. Trường cán bộ Hội Nông dân Việt Nam cũng đã đưa nội dung nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, nghiệp vụ ủy thác vào chương trình bồi dưỡng, đào tạo cán bộ Hội hàng năm, tính bình quân, mỗi năm Trung ương Hội đã tập huấn, bồi dưỡng cho từ 5.000 đến 7.000 cán bộ Hội, trong đó cán bộ cấp cơ sở chiếm khoảng 75%.

2.6. Tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất giúp hộ vay sử dụng vốn hiệu quả:

Hội Nông dân các cấp đã chủ động phối hợp với ngành Nông nghiệp, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, các tổ chức kinh tế, các nhà khoa học, đặc biệt là đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, khuyến công tổ chức hàng vạn buổi tập huấn, hướng dẫn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho các hộ vay vốn. Ngoài ra, các cấp Hội còn xây dựng hàng ngàn mô hình phát triển kinh tế có hiệu quả để tổ chức cho nông dân thăm quan, trao đổi kinh nghiệm. Hàng năm, các cấp Hội đã tham gia tổ chức và trực tiếp dạy nghề cho trên 100.000 lao động nông nghiệp. Từ những hoạt động trên đã tạo ra sự lan tỏa, cuốn hút hộ nghèo tham gia thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, từng bước làm quen với sản xuất hàng hóa, sử dụng vốn đúng mục đích, nhiều hộ đạt mức thu nhập cao đã thoát nghèo, từng bước vươn lên làm giầu.

Tiêu biểu như như: hộ bà Lê Thị Nga là hộ nghèo thuộc Tổ TK&VV thôn 4 xã Cư K’Nia, huyện Cư Jút, tỉnh Đắc Nông, năm 2004 được Tổ bình xét và đề nghị NHCSXH cho vay 8 triệu đồng, bà đầu tư chăn nuôi trâu và bò sinh sản, đến nay gia đình bà đã thoát nghèo, bà đã hoàn trả trả đầy đủ gốc và lãi vay theo quy định.

Hộ ông Nguyễn Đình Mãi, xóm Trung Sơn, xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định gia đình có 5 khẩu, trước năm 2004 phải chạy ăn từng bữa, nhà ở dột nát, năm 2005 được vay 10 triệu của NHCSXH, gia đình thuê đất trồng mì, mía, đậu phộng, bắp từ đó cuộc sống của gia đình dần dần ổn định, có điều kiện đầu tư thâm canh, kết hợp nuôi bò, lợn, gà tăng thu nhập gia đình. Năm 2007, gia đình trả hết nợ cũ và năm 2008 gia đình được vay mới 30 triệu mua máy cày phục vụ sản xuất gia đình và làm dịch vụ cho thu nhập ổn định, hiện nay gia đình còn hỗ trợ, giúp đỡ 5 - 7 hộ nghèo trong thôn phát triển sản xuất;

Hộ ông Đặng Thọ An, xóm 4, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An vay 2 chương trình hộ nghèo và nước sạch vệ sinh môi trường, số tiền 26 triệu đồng đã đầu tư vào chăn nuôi và làm công trình nước sạch cho gia đình. Sau 2 năm vay vốn chăn nuôi lợn nái, gia đình có thu nhập ổn định và đã thoát nghèo.

Hộ ông Trần Vươi, xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, năm 2009 là hội viên nghèo, được xét vay 10 triệu đồng để chăn nuôi heo nái, qua 03 năm gia đình trả vốn, lãi đúng hạn. Đến nay gia đình đã thoát nghèo bền vững, đã cất căn nhà trị giá 100 triệu đồng và tham gia tiết kiệm tự nguyện 2 triệu đồng.

 

II. Một số hạn chế, thiếu sót.  

Mặc dù đạt được những kết quả nêu trên, nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện ủy thác, còn nhiều nơi Hội Nông dân chưa thực hiện đầy đủ các công việc được ủy thác theo quy định, có thể nêu một số hạn chế thiếu sót chính như sau:

1. Hạn chế, thiếu sót:

1.1. Công tác tuyên truyền về các chủ trương, chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, quy định của NHCSXH ở một số nơi còn chưa kịp thời. Do vậy, còn một bộ phận hộ nghèo và đối tượng chính sách khác chưa biết hoặc nhận thức chưa đúng về chính sách tín dụng ưu đãi, dẫn đến việc tham gia và thực hiện nghĩa vụ về vay vốn chưa đầy đủ.

1.2. Khâu chỉ đạo, hướng dẫn thành lập Tổ TK&VV ở một số địa phương còn xem nhẹ, chất lượng cán bộ Tổ TK&VV nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Quá trình bình xét các đối tượng vay vốn của Tổ chưa thực sự dân chủ, công khai; còn tình trạng chia đều, xẻ mỏng, để cào bằng cá biệt có nơi còn bình xét cho vay cả các đối tượng không thuộc diện được thụ hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi của nhà nước. Sinh hoạt Tổ TK&VV còn hình thức, đơn điệu, chủ yếu tập trung đôn đốc việc trả nợ và thực hiện thu lãi, việc hướng dẫn giúp đỡ, giám sát lẫn nhau giữa các tổ viên trong sản xuất và cuộc sống chưa nhiều.

1.3. Chất lượng tín dụng ủy thác chưa đồng đều, thiếu bền vững, tính chung cả nước, tỷ lệ nợ quá hạn hàng năm giảm về số tương đối nhưng tăng về số tuyệt đối (năm 2004 tỷ lệ nợ quá hạn là 3,14%, số tiền nợ quá hạn là 133,3 tỷ đồng, năm 2012 tỷ lệ nợ quá hạn là 1,04% nhưng số tiền nợ quá hạn là 393 tỷ đồng.. Trong đó 20 tỉnh, thành Hội đáng quan tâm là: Hà Giang, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Ninh Thuận, Kon Tum, TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (một phần là từ Ngân hàng người nghèo chuyển sang, nợ cho vay học sinh, sinh viên và xuất khẩu lao động).

Một số cơ sở có tình trạng cán bộ Hội, cán bộ Tổ TK&VV lợi dụng làm ủy thác đã vay ké, thu gốc, thu lãi của người vay để chiếm dụng nhưng chưa có biện pháp để xử lý dứt điểm; việc phối hợp với NHCSXH, chính quyền địa phương đôn đốc thu nợ tồn đọng chưa tích cực; chưa phát hiện kịp thời người vay bị rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng để thông báo cùng ngân hàng, chính quyền cấp xã lập biên bản, hoàn thiện hồ sơ bị rủi ro để trình cơ quan có thẩm quyền xử lý. Việc này đã ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

1.4. Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động uỷ thác của Hội cấp trên đối với cấp dưới, nhất là việc kiểm tra của Ban Thường vụ Hội cơ sở đối với các Tổ TK&VV, kiểm tra việc hộ vay sử dụng vốn chưa thường xuyên hoặc có kiểm tra nhưng không sâu, chất lượng kiểm tra chưa cao. Một số cán bộ lãnh đạo Hội cấp tỉnh, huyện tham gia Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định.

1.5. Công tác đào tạo, tập huấn cán bộ Hội, cán bộ Tổ TK&VV một số nơi chưa thực sự chủ động, còn trông chờ NHCSXH và Hội cấp trên. Việc phối hợp với các ngành tổ chức tập huấn, hướng dẫn hộ vay sử dụng vốn, chuyển giao kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm sản xuất... thực hiện chưa thường xuyên, chưa nhiều.

1.6. Chế độ thông tin báo cáo hoạt động ủy thác trong hệ thống Hội thực hiện chưa nghiêm túc, chưa kịp thời. Công tác giao ban, rút kinh nghiệm một số nơi chưa thường xuyên kể cả trong nội bộ Hội Nông dân và giữa Hội Nông dân với NHCSXH.

2. Nguyên nhân:

- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của Ban Thường vụ Hội Nông dân ở nhiều địa phương chưa quyết liệt, chưa kịp thời. Việc bố trí, phân công cán bộ lãnh đạo phụ trách, cán bộ trực tiếp theo dõi chương trình chưa ổn định, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa theo kịp yêu cầu nhưng công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chưa được chú trọng.

- Sự phối hợp với chính quyền địa phương và NHCSXH trong quá trình tổ chức thực hiện, trao đổi, chia sẻ thông tin, công tác giao ban, sơ kết, tổng kết chưa kịp thời, chưa thường xuyên.

- Các chính sách tín dụng ưu đãi khá nhiều, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của NHCSXH cũng thường xuyên bổ sung, sửa đổi nhưng việc quán triệt, phổ biến chưa kịp thời nên đã gây ít nhiều khó khăn cho cán bộ Hội, cán bộ Tổ trong việc tiếp thu và triển khai thực hiện.

 

III. Đánh giá chung.

1. Mặc dù còn một số hạn chế, thiếu sót, nhưng những kết quả đạt được trong thời gian qua là rất quan trọng khẳng định phương thức ủy thác một số nội dung công việc trong quy trình cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác mà NHCSXH và các đoàn thể chính trị - xã hội đang thực hiện là cách làm năng động, sáng tạo; một mô hình, hiệu quả, rất đặc trưng và mang tính ưu việt của Việt Nam. Cách làm đó đã giúp cho kênh vốn tín dụng chính sách đến đúng đối tượng được thụ hưởng; hộ nông dân nghèo, các đối tượng chính sách được vay vốn thuận lợi, an toàn, nhanh chóng; giảm thời gian giao dịch tín dụng, tiết kiệm chi phí đi lại của hộ vay. Việc cho vay vốn qua Tổ TK&VV đã làm tăng sự đoàn kết, tính nhân ái, giàu tình thương yêu đùm bọc, gắn bó tình làng, nghĩa xóm. Giúp các hộ nghèo hình thành thói quen tiết kiệm và tăng cường trách nhiệm cộng đồng trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh, ổn định cuộc sống, thực hiện nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng. Nhờ có vốn kịp thời, các hộ nghèo có điều kiện để phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trong thời kỳ 2005-2010 giảm từ 22% xuống 9,45% và trong thời kỳ 2011-2012 giảm từ 14,2% xuống còn 10%. Đối với vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc đầu tư tín dụng chính sách còn có tác động quan trọng đối với việc giữ đất đai, làng, bản, biên cương, biển đảo của Tổ quốc.

2. Thông qua ủy thác, Hội Nông dân các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội khác đã giúp cho NHCSXH thực hiện được chủ trương công khai hóa, dân chủ hoá và xã hội hoá hoạt động tín dụng ngân hàng, nhất là chính sách tín dụng ưu đãi của nhà nước, đồng thời giúp cho ngân hàng tiết giảm được chi phí quản lý, không làm tăng thêm biên chế trong ngành. Công tác quản lý nợ, thu lãi, thu nợ gốc, hướng dẫn hộ nghèo sử dụng vốn vay đúng mục đích, đạt hiệu quả được thực hiện tốt hơn.

3. Đối với Hội Nông dân: thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách khác là điều kiện để Hội tập hợp, đoàn kết nông dân, hoạt động của Hội thực chất và hiệu quả hơn, thu hút nhiều nông dân vào Hội. Hội có thêm kinh phí hoạt động, có điều kiện để thực hiện tốt hơn việc lồng ghép  các chương trình công tác của Hội, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, dạy nghề cho nông dân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Đồng thời, qua đó giúp nâng cao năng lực quản lý nhà nước, quản lý tài chính, tín dụng của đội ngũ cán bộ Hội các cấp phát huy được vai trò, nhiệm vụ của Hội là trung tâm nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân xứng đáng là chủ thể trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

 

IV. Một số kinh nghiệm.

Sau 10 năm tổ chức thực hiện ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác có thể rút ra những kinh nghiệm sau:

Một là, phải tranh thủ được sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; phải tạo được cơ chế phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, cụ thể giữa Hội Nông dân và NHCSXH; làm tốt công tác tuyên truyền, phát huy tinh thần chủ động, trách nhiệm của hội viên, nông dân nhất là những người thuộc diện được thụ hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi.

Hai là, phải phân công, bố trí ổn định cán bộ làm ủy thác có đủ năng lực, trình độ, nhiệt tình trách nhiệm để chỉ đạo và tổ chức thực hiện ủy thác ở các cấp Hội. Coi trọng công tác đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ Hội và cán bộ Tổ TK&VV.

Ba là, Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp, nhất là cấp xã cần chủ động, phối hợp chặt chẽ với chính quyền và NHCSXH trong xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm để tiếp nhận được nguồn vốn ủy thác, gắn kết giữa việc cho vay vốn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, và thực hiện các chương trình, nghị quyết của Hội.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động ủy thác của Hội cấp trên đối với cấp dưới, đối với Tổ TK&VV; kiểm tra, giám sát và hướng dẫn hộ vay sử dụng vốn đúng mục đích, đạt hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo, giao ban, sơ kết, tổng kết theo định kỳ.

 

B. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

I. Mục tiêu.

Trong những năm tới, các cấp Hội Nông dân cả nước tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nhận ủy thác cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác, với một số mục tiêu cụ thể cần đạt được là:

1. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng dư nợ ủy thác của Hội hàng năm bằng hoặc cao hơn mức tăng trưởng tín dụng bình quân chung về cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách khác của NHCSXH (khoảng 10%/năm).

2. Tỷ lệ nợ quá hạn không vượt quá 1,5% so với tổng dư nợ nhận ủy thác.

3. Tỷ lệ thu lãi (được ủy nhiệm) đúng hạn hàng tháng đạt từ 98% trở lên.

4. 100% Tổ TK&VV có hoạt động tiết kiệm tự nguyện, tỷ lệ thành viên tham gia gửi tiết kiệm tự nguyện đạt 95% trở lên.

5. Phấn đấu hàng năm không có Tổ TK&VV xếp loại yếu kém; số Tổ TK&VV đạt loại tốt chiếm từ 65% trở lên.

 

II. Nhiệm vụ và giải pháp.

Để thực hiện đạt các mục tiêu trên cần tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

1. Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp làm tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện ủy thác, nhất là những địa phương chất lượng dịch vụ ủy thác còn thấp. Đảm bảo thực hiện đầy đủ những nội dung liên tịch và thỏa thuận đã ký với NHCSXH. Các cấp Hội (tỉnh, huyện và xã) đều phải phân công cán bộ lãnh đạo phụ trách và ít nhất 01 cán bộ chuyên trách theo dõi ổn định.

2. Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền tới cán bộ, hội viên, nông dân các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; chính sách tín dụng có ưu đãi của Chính phủ; những quy định thủ tục cho vay của NHCSXH; những gương điển hình trong tổ chức thực hiện ủy thác, trong sử dụng vốn vay… với nhiều hình thức, phương pháp phù hợp, hiệu quả.

3. Phối hợp với NHCSXH và chính quyền cơ sở tiếp tục củng cố kiện toàn Tổ TK&VV theo đúng Quy chế do Hội đồng quản trị NHCSXH ban hành. Nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ TK&VV. Hội Nông dân cấp huyện và cấp xã chủ động phối hợp với Phòng giao dịch NHCSXH đánh giá, phân loại Tổ TK&VV hàng năm.

4. Tăng cường công tác kiểm tra của Hội cấp trên đối với cấp dưới về tổ chức thực hiện ủy thác. Đảm bảo hàng năm, Trung ương Hội kiểm tra ít nhất 50% Hội Nông dân cấp tỉnh; Hội Nông dân cấp tỉnh kiểm tra Hội Nông dân cấp huyện ít nhất 2 lần một năm; Hội Nông dân cấp huyện kiểm tra 100% Hội Nông dân cấp xã và ít nhất 30% - 35% Tổ TK&VV hàng năm; Hội Nông dân cấp xã kiểm tra 100% Tổ TK&VV hàng quý; Ban quản lý Tổ kiểm tra tổ viên sử dụng vốn hàng tháng.

Phối hợp với NHCSXH, các đơn vị liên quan triển khai các biện pháp thu hồi nợ quá hạn, nợ lãi tồn đọng, nợ do chiếm dụng. Thực hiện đối chiếu dư nợ theo qui định để kịp thời ngăn chặn, không để phát sinh nợ mới.

5. Các cấp Hội cần chủ động và phối hợp với NHCSXH tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ được phân công quản lý, theo dõi chương trình ủy thác và Tổ trưởng Tổ TK&VV ít nhất mỗi năm 01 lần/người.

6. Tăng cường phối hợp với các ngành chức năng tổ chức tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, dạy nghề, hướng dẫn cách làm ăn có hiệu quả, ... giúp các hộ nghèo tổ chức sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả vươn lên thoát nghèo bền vững. Triển khai lồng ghép công tác uỷ thác cho hộ nghèo vay vốn với các chương trình dự án của Hội và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương. Cần xây dựng và mở rộng các mô hình cho hộ nghèo; hộ sản xuất, kinh doanh vùng khó khăn vay vốn theo dự án có sự hướng dẫn, tư vấn của Hội.

7. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo, duy trì công tác giao ban hàng quý, 6 tháng và đánh giá kết quả thực hiện ủy thác hàng năm trong hệ thống Hội và giữa Hội với Ngân hàng. Quản lý, sử dụng phí ủy thác theo đúng quy định. Tiến tới sẽ triển khai thực hiện theo dõi, quản lý, sử dụng vốn vay trên mạng máy tính. Kịp thời biểu dương, khen thưởng động viên những đơn vị, cá nhân có nhiều thành tích trong hoạt động ủy thác và thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ. Đưa chỉ tiêu chất lượng hoạt động ủy thác vào tiêu chí đánh giá bình xét xếp loại thi đua hàng năm đối với các tỉnh, thành Hội.

 

C. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

Để chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước phát huy hiệu quả hơn nữa đối với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới, Hội Nông dân Việt Nam đề nghị:

1. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan xây dựng được cơ chế tạo lập nguồn vốn ổn định, bền vững đối với NHCSXH.

2. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh, nâng mức cho vay tối đa một số chương trình tín dụng chính sách, cụ thể :

- Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn từ 4 triệu đồng lên 10 triệu đồng/1 loại công trình (nước sạch hoặc vệ sinh). 

- Chương trình cho vay làm nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định 167/QĐ-TTg ngày 12/12/2008, từ 8 triệu đồng/hộ lên 15 triệu đồng/hộ.  

3. Đề nghị NHCSXH phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác xem xét, điều chỉnh nội dung công việc mà NHCSXH ủy thác cho các Hội, đoàn thể cho hợp lý hơn. Nghiên cứu điều chỉnh nâng mức trả phí ủy thác cho Hội Nông dân cấp huyện. Tăng cường công tác thông tin 2 chiều; duy trì thường xuyên hơn chế độ giao ban định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm và đánh giá kết quả chương trình phối hợp hàng năm từ Trung ương đến cơ sở. Tạo điều kiện về nguồn vốn cho Hội Nông dân chỉ đạo một số mô hình điểm theo hướng cho vay theo dự án: giúp người nghèo vươn lên có sự tham gia của hộ khá, giầu; mô hình xây dựng gia đình nông dân phát triển bền vững./.

 

                        

Nơi nhận:

-    Đ/c Chủ tịch BCHTW Hội (để b/c)

-    Các đ/c Phó chủ tịch BCHTW Hội

-    NHCSXH;

-    Các tỉnh, thành Hội;

-    Các ban, đơn vị TW Hội;

-    Lưu VP

T/M BAN THƯỜNG VỤ

PHÓ CHỦ TỊCH

 (Đã ký) 

 

 

 

Lại Xuân Môn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
50.200
50.600
Vàng nhẫn
49.930
50.480
Vàng nhẫn
49.930
50.580
Tỷ giá