Thứ hai, 09/12/2019 (GMT+7)
Giá nông sản
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khoá V) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam
07:44 - 01/10/2013

 TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG,

XÂY DỰNG HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM VỮNG MẠNH, PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ

CỦA GIAI CẤP NÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN NÔNGNGHIỆP VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

 (Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khoá V)

 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam)

Hà Nội, ngày 01 đến 03 tháng 7 năm 2013

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam diễn ra trong thời điểm nước ta sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Đại hội VI là Đại hội của tinh thần Đoàn kết - đổi mới - chủ động - hội nhập - phát triển bền vững”. Đại hội có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ 2008-2013; đề ra phư­ơng hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ 2013-2018.

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI V HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

 

A- TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN

Năm năm qua, bên cạnh những thuận lợi cơ bản do tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra, nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do những yếu kém vốn có của nền kinh tế, thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi; ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu trở thành những vấn đề nghiêm trọng; tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân cả nước, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn, góp phần ổn định chính trị- xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Nông nghiệp nước ta tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí cao trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản... Giá trị kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp tăng trưởng khá; riêng năm 2012 đạt 23,9 tỷ USD, chiếm 1/5 kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Khoa học, công nghệ, cơ giới hóa nông nghiệp được áp dụng rộng rãi góp phần tăng năng suất lao động, tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Những kết quả đạt được trong sản xuất nông nghiệp đã góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng và phát triển bền vững. Thành tựu đạt được trong sản xuất nông nghiệp có vai trò đóng góp to lớn của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam.

Tuy nhiên, đầu tư cho nông nghiệp vẫn còn thấp so với vị trí, tiềm năng và nhu cầu phát triển. Nông nghiệp nước ta phát triển chưa bền vững, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu. Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và đổi mới phương thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán, manh mún; giá trị gia tăng nhiều mặt hàng còn thấp.

Nông dân nước ta chiếm gần 70% dân số và trên 50% lực lượng lao động xã hội; có truyền thống yêu nước và cách mạng, luôn trung thành với Đảng; có đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, giai cấp nông dân cùng nhân dân cả nước tạo nên những thành tựu to lớn trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân; năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn 9,6% (theo tiêu chí mới), thu nhập bình quân đầu người tăng gần 2 lần so với năm 2008. Điều kiện ăn, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe ngày càng được Nhà nước quan tâm hơn. Trình độ dân trí được nâng lên và ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường; dân chủ được mở rộng, quyền làm chủ của nông dân được phát huy. Vị thế chính trị của giai cấp nông dân và Hội Nông dân ngày càng được nâng cao, khẳng định vai trò chủ thể trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Tuy vậy, thực trạng nông dân hiện nay đa số vẫn là những hộ sản xuất quy mô nhỏ. Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân tuy có bước cải thiện nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Nông dân băn khoăn, lo lắng về sự phát triển chưa vững chắc của nền kinh tế; về dịch bệnh ở cây trồng, vật nuôi; về ô nhiễm môi trường; về biến đổi khí hậu... các chính sách về thu mua tạm trữ, tiêu thụ nông sản, nhập khẩu muối, vật tư nông nghiệp; khai thác khoáng sản, khai thác hải sản; bảo hiểm nông nghiệp chưa mang lại quyền lợi thực sự cho nông dân. Nông dân khó tiếp cận các chính sách tín dụng của Nhà nước dẫn đến thiếu vốn sản xuất, kinh doanh; chính sách về đất đai còn bất cập, việc thu hồi đất nông nghiệp, đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư chưa phù hợp, dẫn đến một bộ phận nông dân mất đất sản xuất, không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn.

Nông thôn nước ta tiếp tục được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới.Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp, thu hút sự tham gia tích cực của nông dân; mô hình nông thôn mới theo các tiêu chí bước đầu thực hiện đạt kết quả thiết thực, các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới, kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường. Đã có 98,6% số xã có điện; 96,2% hộ có điện lưới thắp sáng; 49,2% số hộ nông dân có nhà kiên cố; 87,4% hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh; có 71,8% số xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; 97,8% số xã có đường ô tô đến trung tâm; 49,1% số xã có nhà văn hoá; 89,3% số xã có bưu điện văn hóa; 90,8% số xã có trường trung học cơ sở; hầu hết số xã có trường tiểu học và lớp mẫu giáo.

Mặc dù vậy, nông thôn phát triển còn thiếu quy hoạch, các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp kém, môi trường nông thôn bị ô nhiễm, năng lực ứng phó với thiên tai còn nhiều hạn chế, vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới chưa đáp ứng được yêu cầu. Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào xây dựng nông thôn mới còn thiếu. Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền còn lớn, đang có xu hướng nới dần khoảng cách.

B- KẾT QUẢ CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN NHIỆM KỲ 2008-2013

I- Công tác xây dựng Hội

1- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng

 Các cấp Hội đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân thực hiện các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội. Tuyên truyền các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, điển hình tiên tiến, phổ biến các tiến bộ khoa học, công nghệ; giáo dục truyền thống, đạo đức cách mạng gắn với đẩy mạnh thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Các cấp Hội đã quan tâm tổ chức các Cuộc thi tìm hiểu về “Đảng cộng sản Việt Nam”, về “Chủ tịch Hồ Chí Minh”, về “Hội Nông dân Việt Nam 80 năm xây dựng và trưởng thành”, thu hút hàng triệu lượt cán bộ, hội viên, nông dân tham gia.

 Công tác tuyên truyền, giáo dục có bước đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động phù hợp với nông dân: tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội nông dân, sinh hoạt Câu lạc bộ nông dân; phát hành bản tin, ra chuyên trang, chuyên mục và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, gắn với tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; các cuộc thi, hội thi và các hoạt động xã hội... Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng; cổ vũ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường vươn lên của nông dân, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng và Nhà nước.

2- Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội các cấp

Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội được triển khai thực hiện thường xuyên. Các cấp Hội đã tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 05- NQ/HND, ngày 20/1/2000 của Ban Chấp hành Trung ương Hội (khóa III) về xây dựng cơ sở Hội vững mạnh; 5 năm thực hiện Nghị quyết số 04- NQ/HND, ngày 8/9/2004 của Ban Chấp hành Trung ương Hội (khóa IV) về nâng cao chất lượng tổ chức Hội các cấp. Đồng thời, Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 06- NQ/HNDTW, ngày 19/7/2010 về tiếp tục xây dựng tổ chức Hội các cấp vững mạnh; hướng dẫn một số vấn đề cụ thể về thi hành Điều lệ Hội, hướng dẫn chế độ sinh hoạt Hội và sử dụng hội phí.

Công tác phát triển hội viên và nâng cao chất lượng hội viên được chú trọng; nhiều loại hình tập hợp nông dân vào Hội được triển khai thực hiện: tổ nhóm sản xuất theo ngành nghề, tổ tín dụng tiết kiệm, tổ hùn vốn làm nhà, tổ đoàn kết bám biển... đã mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân, qua đó đã thu hút nông dân vào tổ chức Hội. Trong nhiệm kỳ qua, cả nước kết nạp được trên 2 triệu hội viên mới, gắn với đổi thẻ hội viên; nâng tổng số hội viên lên 10.442.278, tăng 4,4% so với nhiệm kỳ trước. Chất lượng hội viên được nâng lên, tích cực tham gia sinh hoạt, hoạt động, thực hiện các phong trào do Hội phát động, ngày càng tin tưởng và gắn bó với tổ chức Hội.

Tổ chức bộ máy của Hội Nông dân các cấp được kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp được cơ cấu hợp lý và có chất lượng. Các cơ sở Hội, chi Hội, tổ Hội ngày càng được củng cố và phát triển; cả nước có 10.536 cơ sở Hội; 95.246 thôn, ấp, bản, làng có chi Hội, đạt 100% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra. Chất lượng hoạt động của các sơ sở Hội và chi, tổ Hội được nâng lên; số cơ sở Hội khá và vững mạnh đạt 92,17% vượt 15,2% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra.

Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ được các cấp Hội quan tâm. Thực hiện Quyết định số 1045/QĐ- TTg, ngày 7/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2015; Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết số 01- NQ/HNDTW, ngày 25/01/2011 về công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ giai đoạn 2011- 2015. Trung ương Hội đã tổ chức 2 khóa đào tạo hệ trung cấp ngành công tác xã hội, chuyên ngành công tác Hội Nông dân; Hội Nông dân các tỉnh, thành phố đã tăng cường phối hợp với các trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng cán bộ tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ Hội. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được đổi mới; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ Hội cơ sở, cán bộ Hội là người dân tộc thiểu số, cán bộ Hội ở vùng tôn giáo, đã từng bước nâng cao trình độ, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân trong tình hình mới.

3- Công tác kiểm tra, giám sát

Công tác kiểm tra, giám sát của Hội được tăng cường, đi vào nền nếp; chất lượng, hiệu quả được nâng lên, góp phần giữ gìn sự đoàn kết trong tổ chức Hội, nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân.

Trung ương Hội đã ban hành Quy định về công tác kiểm tra và kỷ luật của Hội. Hệ thống cơ quan kiểm tra và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra từng bước được kiện toàn. Ngay từ đầu nhiệm kỳ Ban Kiểm tra Trung ương Hội và hệ thống Ban Kiểm tra từ tỉnh đến cơ sở được kiện toàn và thường xuyên củng cố với trên 34.600 cán bộ.

Hàng năm, các cấp Hội đã xây dựng và triển khai thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát. Chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện Điều lệ Hội, công tác Hội và phong trào nông dân; việc thực hiện các chương trình, dự án, quản lý tài chính, sử dụng Quỹ Hội... và thực hiện các quy chế, quy định của các cấp Hội; giám sát việc thực hiện các chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội như: giám sát việc chi trả tiền bồi thường cho nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường thiệt hại cho nông dân do các công ty gây ra ô nhiễm môi trường, tham gia giám sát việc cấp quà tết, gạo cứu trợ cho các hộ nghèo, gia đình chính sách.

 Qua kiểm tra, giám sát đã phát hiện và xử lý 53 vụ vi phạm, trong đó có một tập thể và 52 cá nhân. Qua đó, góp phần khắc phục thiếu sót, ngăn chặn và hạn chế tiêu cực, sai phạm; chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cấp Hội.

4- Xây dựng tài chính và cơ sở vật chất của Hội

Các cấp Hội đã tăng cường công tác xây dựng tài chính và cơ sở vật chất của Hội; tích cực vận động cán bộ, hội viên đóng góp, các tổ chức, cá nhân hảo tâm tài trợ và thông qua tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ vốn, vật tư nông nghiệp để xây dựng và phát triển Quỹ Hội. Kết quả đã có 95.246 chi Hội xây dựng được Quỹ Hội, đạt 100% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra. Qua đó đã hỗ trợ cho các hoạt động của Hội và thăm hỏi hội viên.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân, Ban Chấp hành Trung ương Hội đã tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 03- NQ/HND ngày 26/7/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khóa IV) về đẩy mạnh xây dựng và phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân; ban hành Kết luận về tiếp tục đẩy mạnh và xây dựng Quỹ Hỗ trợ nông dân; xây dựng và triển khai thực hiện Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân”; ban hành Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) tổ chức và hoạt động Quỹ Hỗ trợ nông dân. Hệ thống Quỹ Hỗ trợ nông dân được xây dựng ở 3 cấp, bao gồm Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương; Quỹ Hỗ trợ nông dân của 57/63 tỉnh, thành phố; Quỹ Hỗ trợ nông dân của 578/672 huyện, thị xã. Tổng nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân của cả nước đến nay đạt 1.186 tỷ đồng, tăng 819 tỷ đồng so với năm 2008.

Cơ sở vật chất của Hội ngày càng được tăng cường, đã xây dựng được 5 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân khu vực, Trường Cán bộ cơ sở 2 tại Quảng Nam, 25 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân tỉnh, thành phố và nâng cấp trang thiết bị cho 3 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân tỉnh, thành phố. Văn phòng làm việc của Hội nông dân cấp tỉnh, huyện được cải thiện đáng kể, cơ bản đáp ứng điều kiện làm việc; Trung ương Hội và nhiều tỉnh, thành Hội đã xây dựng được trụ sở làm việc mới khang trang, sạch đẹp với các thiết bị, tiện nghi tương đối đồng bộ, hiện đại phục vụ tốt hơn nhu cầu làm việc của cán bộ Hội.

Các công trình nhà lưu niệm, nhà truyền thống, bia di tích lịch sử được duy tu, bảo dưỡng, nâng cấp phục vụ tốt cho việc giáo dục, bảo tồn, lưu giữ các giá trị truyền thống lịch sử của Hội Nông dân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.

 5- Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội, công tác chỉ đạo và điều hành của Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp

Các cấp Hội tích cực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, sát hội viên, nông dân và tình hình thực tiễn ở địa phương; lấy lợi ích để tập hợp nông dân vào Hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn lợi ích và nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân; tuyên truyền, giáo dục, vận động đoàn kết, tập hợp nông dân vào tổ chức Hội đi đôi với đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống. Đồng thời, Hội cũng quan tâm tổ chức thực hiện các hoạt động chăm lo lợi ích, nhu cầu thiết thực của hội viên, nông dân. Nâng cao vai trò đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân.

Ban Chấp hành các cấp đã bám sát chủ trương, sự lãnh đạo của cấp ủy, tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền và chủ động phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể để tạo cơ chế, chính sách và nguồn lực cho công tác Hội và phong trào nông dân. Công tác chỉ đạo, điều hành tiếp tục được đổi mới, xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc; tiến hành tổng kết, xây dựng và ban hành các nghị quyết chuyên đề và triển khai nhiều chương trình, đề án có hiệu quả; mở rộng và nâng cao hiệu quả mối quan hệ với các cấp, các ngành, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế để tranh thủ nguồn lực giúp hội viên, nông dân phát triển sản xuất.

 Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)“Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết. Thực hiện nhiệm vụ Bộ Chính trị giao, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã xây dựng Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”. Đề án đã được Ban Bí thư Trung ương Đảng thông qua và ban hành Kết luận số 61-KL/TW, ngày 3/12/2009 để chỉ đạo thực hiện. Đồng thời, tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011- 2020. Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam đã có văn bản đề nghị các tỉnh, thành ủy phối hợp chỉ đạo thực hiện Kết luận số 61-KL/TW và Quyết định số 673/QĐ-TTg; Ban Chấp hành Trung ương Hội xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án và chỉ đạo thực hiện trong hệ thống Hội. Trung ương Hội trực tiếp làm việc với 8 bộ, ngành liên quan, đã ký chương trình phối hợp với 6 bộ; các tỉnh, thành Hội đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ban hành các văn bản chỉ đạo, đồng thời xây dựng đề án, chương trình, ký phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan để triển khai thực hiện, đã đạt được một số kết quả bước đầu: triển khai được 25 dự án xây dựng mới và nâng cấp các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh; Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương Hội được cấp bổ sung 300 tỷ đồng; 45 tỉnh, thành phố đã cấp hoặc ủy thác ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh 560 tỷ đồng.

Các cấp Hội đã chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp để triển khai thực hiện Nghị quyết số 26- NQ/TW, Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, tập trung chỉ đạo đẩy mạnh 3 phong trào thi đua yêu nước do Hội phát động và tổ chức nhiều hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn, hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho hội viên, nông dân. Giai cấp nông dân phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới của đất nước.

6- Mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế

Công tác đối ngoại có bước phát triển mới, đạt kết quả thiết thực. Hội đã có quan hệ hữu nghị và hợp tác với trên 40 tổ chức nông dân, tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới; là quan sát viên của Phong trào Nông dân Quốc tế (LVC) và Hội Nông dân Châu Á (AFA). Các cấp Hội đã vận động được trên 120 tỉ đồng vốn viện trợ không hoàn lại, trong đó Trung ương Hội vận động được gần 100 tỉ đồng và nhiều máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp; cử 120 đoàn với 365 lượt cán bộ đi nghiên cứu, học tập, dự hội nghị, hội thảo, tập huấn ở nước ngoài; đón tiếp 182 đoàn khách quốc tế vào thăm và làm việc với Hội; đăng cai tổ chức một số sự kiện quốc tế quan trọng như: Hội nghị tư vấn các tổ chức Dân sự khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của FAO, Đại hội lần thứ V Hội Nông dân Châu Á (AFA), Hội nghị khu vực Phong trào Nông dân Quốc tế (LVC). Trung ương Hội đã tổng kết 20 năm hoạt động đối ngoại, ban hành Quy chế tiếp nhận và quản lý các dự án quốc tế tài trợ cho Hội Nông dân Việt Nam. Hoạt động đối ngoại đã góp phần hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực cán bộ Hội.

7- Hoạt động khoa học và công nghệ

 Công tác chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất của các cấp Hội được đẩy mạnh. Hội Nông dân các tỉnh, thành phố đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn, các doanh nghiệp tổ chức hơn 30.000 lớp tập huấn khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư... cho trên 2 triệu lượt cán bộ, hội viên, nông dân. Xây dựng “Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông”, “điểm truy cập Internet”; mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản; tổ chức Cuộc thi “Nhà nông đua tài”... đã trang bị cho nông dân kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới để áp dụng vào sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Số hộ ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật ngày càng tăng lên.

Để khơi dậy phong trào thi đua sáng tạo, cải tiến khoa học - kỹ thuật, nâng cao trình độ lao động của nông dân; các cấp Hội đã phát động thi đua trong hội viên, nông dân tham gia Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông”. Đã xuất hiện hàng trăm giải pháp sáng tạo, cải tiến, chế tạo ra máy nông cụ, thiết bị kỹ thuật hữu dụng trong sản xuất và đời sống đã tiết kiệm chi phí, giải phóng sức lao động, nâng cao tính cạnh tranh của hàng hoá nông sản; nhiều sáng chế đã được công nhận thương hiệu và áp dụng vào sản xuất rộng rãi góp phần nâng cao hiệu quả lao động, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Ban Chấp hành Trung ương Hội đã tổng kết 5 năm Chương trình phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Hội (khóa IV) về đẩy mạnh khoa học và công nghệ của Hội Nông dân Việt Nam; ban hành Kết luận về tiếp tục đẩy mạnh công tác khoa học- công nghệ, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2011- 2015; ký kết chương trình phối hợp hoạt động với Bộ Khoa học và Công nghệ. Các cấp Hội đã thực hiện một số dự án điều tra, tổ chức hội thảo khoa học về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; qua đó đề xuất với Đảng, Nhà nước có chính sách phù hợp với tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay.

8- Công tác thi đua, khen thưởng

Công tác thi đua, khen thưởng của Hội tiếp tục được đổi mới, tạo động lực thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân. Các phong trào thi đua của Hội tiếp tục được đẩy mạnh gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.

 Các cấp Hội đã tiến hành tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW, ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng và nhân điển hình tiên tiến. Tổ chức thành công Hội nghị nông dân điển hình tiên tiến các cấp, Đại hội thi đua yêu nước và biểu dương nông dân điển hình tiên tiến toàn quốc lần thứ III.

Chủ tịch nước đã tặng thưởng 158 Huân chương các loại; Chính phủ đã tặng 46 Cờ thi đua, Thủ tướng Chính phủ đã tặng 350 Bằng khen cho tập thể và cá nhân đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tặng 194 Cờ, 10.357 Bằng khen, 42.444 Kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam”; các tỉnh, thành Hội đã tặng hàng nghìn Bằng khen, Giấy khen cho tập thể và cá nhân có nhiều thành tích đóng góp cho công tác xây dựng Hội và phong trào nông dân. Đặc biệt năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam, giai cấp nông dân Việt Nam đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng (lần 2) - phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước.

II- Tổ chức các phong trào nông dân thi đua yêu nước

1- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng

Phong trào luôn được các cấp Hội tập trung chỉ đạo phát động và tổ chức thực hiện. Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phè xác định phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi là phong trào thi đua của tỉnh, thµnh phè trong xây dựng nông thôn mới.

Phong trào tiếp tục phát triển cả bề rộng và chiều sâu có sức lan tỏa trong nhiều lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, trở thành tâm điểm trong đời sống kinh tế, xã hội ở nông thôn và đã đạt được những kết quả to lớn, tạo động lực khích lệ, động viên hội viên, nông dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, đổi mới cách nghĩ, cách làm, vươn lên làm giàu và giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo; tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khai thác tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, vốn liếng để đầu tư phát triển sản xuất, mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản. Với vai trò trung tâm và nòng cốt trong phong trào, các cấp Hội đã có nhiều biện pháp chỉ đạo: tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, “dồn điền, đổi thửa” tạo vùng sản xuất tập trung; tư vấn, giới thiệu những giống cây trồng, vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao; tổ chức tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, tổ chức dạy nghề, tham quan, hội thảo, hội nghị đầu bờ; xây dựng các mô hình trình diễn; tín chấp cho nông dân vay vốn, mua vật tư nông nghiệp, máy nông cụ theo phương thức chậm trả với lãi suất ưu đãi; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể; ký nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp với các bộ, ngành về đẩy mạnh triển khai các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở nông thôn. Các hoạt động trên đã được triển khai ở các cấp Hội. Vì vậy, đã thu hút được đông đảo các hộ nông dân tham gia phong trào. Bình quân hàng năm có 8,2 triệu hộ đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Từ phong trào đã xuất hiện ngày càng nhiều nông dân đạt danh hiệu hộ sản xuất, kinh doanh giỏi; nhiều mô hình có quy mô sản xuất lớn, thu hút hàng trăm lao động, thu nhập hàng chục tỷ đồng mỗi năm. So với giai đoạn 2003 - 2008, số hộ có mức thu nhập trên 200 triệu đồng/ năm tăng gấp 3 lần, số hộ có mức thu nhập trên 1 tỷ đồng/ năm tăng 5 lần.

Phong trào đã khuyến khích, động viên nông dân phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bằng nhiều hình thức: giúp về vốn, giống, ngày công lao động, về cách làm ăn… Các cấp Hội đã vận động các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tạo việc làm tại chỗ cho hơn 10,5 triệu lượt lao động, trong đó có trên 3,3 triệu lượt lao động có việc làm thường xuyên, hơn 7 triệu lượt lao động có việc làm theo mùa vụ; giúp đỡ vốn, giống cây, con và kinh nghiệm sản xuất cho hơn 7 triệu lượt hộ nông dân; giúp hơn 150 nghìn hộ nông dân thoát được nghèo, trên 1 triệu hộ nghèo cải thiện điều kiện nhà ở.

 Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng đã góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thúc đẩy kinh tế phát triển, xây dựng Hội vững mạnh.

2- Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới và hưởng ứng Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động; Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/HNDTW, ngày 29/7/2011 về tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2020. Các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới bằng những việc làm thiết thực như: hiến đất và đóng góp hàng nghìn tỷ đồng, hàng chục triệu ngày công lao động để làm đường giao thông, thủy lợi nội đồng, kiên cố hóa kênh mương, xây dựng đường điện hạ thế, phòng học, nhà văn hóa xã, thôn, bản, đắp bờ bao chống lũ… Nhiều nội dung của chương trình xây dựng nông thôn mới đã được triển khai có kết quả bước đầu: 95,7% số xã của cả nước đã triển khai quy hoạch nông thôn mới, trong đó 84% số xã đã được phê duyệt về quy hoạch, 65% số xã đã được phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới. Có 950 xã của các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ đạt từ 10 tiêu chí trở lên. Một số tỉnh đang trở thành “điểm sáng” về xây dựng nông thôn mới với cách làm chủ động, sáng tạo.

 Các cấp Hội đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nông dân nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường nông thôn. Tích cực huy động các nguồn lực xây dựng các mô hình về bảo vệ môi trường nông thôn để tuyên truyền, phổ biến và nhân rộng; hướng dẫn hội viên, nông dân phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường; tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; giữ gìn cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp ở nông thôn. Trung ương Hội đã ký chương trình phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông quốc gia về đẩy mạnh công tác giáo dục, vận động nông dân tham gia bảo đảm trật tự an toàn giao thông; tổ chức tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Vận động hội viên, nông dân thực hiện Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", xây dựng gia đình văn hóa, tham gia xây dựng làng, xã văn hóa; thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội; phòng chống các tệ nạn xã hội; thực hiện chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; tham gia các hoạt động khuyến học, khuyến tài ở nông thôn; đã phối hợp với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp để vận động hội viên, nông dân tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tổ chức các cuộc thi: “Tiếng hát đồng quê”, “Giải Bóng chuyền bông lúa vàng”, “Bóng đá nông dân”, “Giải vật Tạp chí Nông thôn mới”... đã tạo thêm nhiều sân chơi mới bổ ích thiết thực, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, mở rộng giao lưu học hỏi, hiểu biết giữa các dân tộc, các vùng miền trong cả nước.

Bình quân mỗi năm có 9 triệu hộ nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá, trong đó có 8,5 triệu hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá.

3- Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng an ninh

Các cấp Hội đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; luôn cảnh giác với diễn biến hòa bình và chia rẽ dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng đại đoàn kết. Hội đã chủ động phối hợp với lực lượng Quân đội, Công an triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác quốc phòng, an ninh nhất là Nghị quyết 09/1998/NQ-CP của Chính phủ và Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, đấu tranh ngăn chặn các hành động phá hoại của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh nông thôn. Tích cực tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức về phòng chống tội phạm, Luật Nghĩa vụ quân sự cho trên một triệu lượt hội viên, nông dân; phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam xây dựng phim phóng sự truyền hình về các mô hình, điển hình tiên tiến trong phòng chống tội phạm và bài trừ tệ nạn xã hội; xây dựng các tổ tự quản, tổ an ninh nhân dân, tổ hòa giải ở thôn xóm; phát động phong trào nông dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc; tổ chức cho hội viên, nông dân ký cam kết gia đình không có người vi phạm pháp luật và mắc các tệ nạn xã hội và tích cực cung cấp các thông tin liên quan đến an ninh, tội phạm cho các cơ quan chức năng. Đồng thời, các cấp Hội đã tích cực vận động con, em nông dân thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự, dân quân tự vệ và các chính sách hậu phương quân đội, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ, Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Tại các địa bàn nơi biên giới, hải đảo các cấp Hội đã tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên biển, đảo và đường biên, mốc giới, chống xâm canh, xâm cư; phối hợp với lực lượng hải quân, biên phòng, cảnh sát biển tổ chức tuần tra bảo vệ an ninh biên giới, hải đảo, xây dựng các “điểm sáng vùng biên”; thường xuyên giáo dục ý thức cảnh giác cách mạng trước âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Kết quả phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn.

III- Mở rộng các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp 

Các cấp Hội đãphối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện thuận lợi giúp cho 2,4 triệu lượt hộ vay, với tổng dư nợ 37.990 tỷ đồng; 664.900 lượt hộ vay, với tổng dư nợ 16.000 tỷ đồng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; có trên 100 ngàn lượt hộ nông dân được vay vốn từ Qũy Hỗ trợ nông dân, cùng với nguồn vốn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm do Hội quản lý đã góp phần quan trọng giúp đỡ hội viên nông dân có vốn đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Trong đó nhiều hộ đã thoát nghèo, một số hộ trở thành hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi.

Để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp, nâng cao hiểu biết, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật cho cán bộ, hội viên, nông dân; các cấp Hội đã phối hợp tổ chức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho nông dân thông qua các mô hình điểm như: “Vận động nông dân chấp hành pháp luật về sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch”; phát hành Cẩm nang tư vấn pháp luật cho nông dân làm tài liệu tham khảo; mở các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho cán bộ, hội viên, nông dân. Nhiều tỉnh, thành Hội đã phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông sản tại các khu vực nhằm tăng cường quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ nông sản, hàng hóa cho nông dân; phối hợp xây dựng hệ thống “Sàn kết nối cung cầu nông nghiệp thực phẩm”; chương trình tăng cường cung cấp thông tin cho nông dân trồng lúa 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và bước đầu triển khai các chương trình cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long về thông tin thị trường… Hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nông dân về chuyển giao tiến bộ khoa học- kỹ thuật và công nghệ của các cấp Hội đã đạt kết quả tốt. Các cấp Hội liên kết với các ngành, doanh nghiệp cung cấp vật tư­, hàng hoá, máy công cụ theo phư­ơng thức trả chậm hàng vạn tấn phân bón, hàng ngàn máy móc các loại phục vụ sản xuất và cải thiện đời sống. Hội đã chủ động phối hợp với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức 75.600 lớp tập huấn, chuyển giao khoa học- kỹ thuật cho 3.776.800 lượt hội viên, nông dân, xây dựng được 120.780 mô hình trình diễn chuyển giao tiến bộ khoa học- kỹ thuật về cây trồng, vật nuôi, ngành nghề mới có tác dụng thiết thực.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về tăng cường công tác dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân, các cấp Hội đã tích cực triển khai thực hiện đạt kết quả thiết thực. Trong nhiệm kỳ Hội Nông dân các cấp đã trực tiếp và phối hợp dạy nghề ngắn hạn cho 1.096.000 nông dân, vượt 9,6% so chỉ tiêu Đại hội đề ra, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và hướng dẫn phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011-2020. Các tỉnh, thành Hội đã có kế hoạch và chương trình hành động để tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân xây dựng và phát triển các loại hình kinh tế tập thể phù hợp với từng địa bàn, từng ngành nghề và trình độ phát triển ở từng khu vực để giải quyết những khâu, những việc mà từng hộ không làm được hoặc làm không có hiệu quả. Đến nay hầu hết các tỉnh, thành Hội đã xây dựng được mô hình kinh tế tập thể mang lại hiệu quả bước đầu.

IV- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Các cấp Hội đã tổ chức lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên đóng góp đối với tập thể, cá nhân cấp ủy cùng cấp theo chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.Tổ chức cho cán bộ, hội viên nông dân tham gia ý kiến xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia đóng góp ý kiến phê bình cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Năm 2011, các cấp Hội đã tích cực vận động nông dân tham gia các hội nghị lấy ý kiến nhận xét đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016, hội viên, nông dân hăng hái đi bầu cử đạt tỷ lệ cao. Giới thiệu các hội viên ưu tú để Đảng xem xét kết nạp.

Các cấp hội đã tổ chức cho cán bộ, hội viên, nông dân tham gia xây dựng các Nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn như: chính sách bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo vệ môi trường; chính sách kinh doanh, xuất khẩu gạo... sửa đổi các thủ tục cho vay vốn theo Quyết định 497/QĐ-TTg, ngày 17/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn; bổ sung đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng theo Nghị định số 41/NĐ- CP, ngày 12/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ; bổ sung, chỉnh sửa Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 4/6/2010 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; đề xuất có cơ chế, chính sách đặc thù giúp ngư dân bám biển sản xuất và bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Đặc biệt Trung ương Hội và các cấp Hội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, dự thảo Luật hợp tác xã, dự thảo Luật đất đai (sửa đổi).

Phát huy dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, vai trò giám sát và phản biện xã hội; các cấp Hội đã tích cực triển khai, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Duy trì tốt việc tiếp dân, gắn với tuyên truyền pháp luật cho hội viên, nông dân theo Chỉ thị 26/2001/CT-TTg ngày 9/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về tạo điều kiện để Hội nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân và Công văn số 1502 của Thủ tướng Chính phủ. Phối hợp với các ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể hòa giải thành hàng vạn vụ mâu thuẫn ngay tại cơ sở, tiếp nhận và tham gia giải quyết hàng nghìn đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của hội viên, nông dân. Đề nghị Hiệp hội Lương thực và Công ty Lương thực Miền Nam về giải pháp bảo đảm quyền lợi cho nông dân trong xuất khẩu gạo. Báo cáo Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng và gửi ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố đề nghị xử lý sai phạm trong thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo trong dịp tết; báo cáo Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng và các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Công ty Vedan Việt Nam gây ô nhiễm môi trường bồi thường thiệt hại cho nông dân. Kịp thời đề nghị Ủy ban sông Mê Kông Việt Nam có ý kiến với Chính phủ Lào và Ủy ban sông Mê Kông quốc tế về việc xây dựng thủy điện trên sông Mê Kông ảnh hưởng tới môi trường và sinh kế của người dân sống dọc bờ sông Mê Kông; kiến nghị với Đảng, Nhà nước có giải pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo; bảo vệ người dân đánh bắt hải sản trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

C- ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

I- Đánh giá chung

Nhiệm kỳ qua các cấp Hội đã tích cực, chủ động, sáng tạo đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân, đã hoàn thành cơ bản các mục tiêu do Đại hội V (nhiệm kỳ 2008- 2013) đề ra.

Nội dung và phương thức hoạt động của Hội, công tác chỉ đạo và điều hành của Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp có nhiều đổi mới, đạt kết quả quan trọng, đã gắn việc tập hợp, đoàn kết, tuyên truyền, vận động với đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn và hỗ trợ nông dân. Đặc biệt, đã hoàn thành tốt việc xây dựng Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020” được Ban Bí thư Trung ương Đảng thông qua và ban hành Kết luận số 61- KL/TW, ngày 3/12/2009 và Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế thực hiện tại Quyết định 673/ QĐ- TTg, ngày 10/5/2011. Để nâng cao trình độ, năng lực và hoàn thiện bộ máy cấp cơ sở Hội, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 1045/QĐ- TTg, ngày 7/7/2010 phê duyệt Đề án về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2015; được các bộ, ngành, các cấp ủy, chính quyền địa phương tích cực phối hợp tham gia thực hiện có kết quả bước đầu Kết luận của Ban Bí thư và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đã tạo được cơ chế, chính sách để các cấp Hội trực tiếp tham gia các hoạt động hỗ trợ, tạo nguồn lực giúp đỡ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và xây dựng nông thôn mới.

Hội Nông dân các cấp ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Hội và chất lượng hội viên được nâng lên; công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng; công tác cán bộ có nhiều chuyển biến tiến bộ, trình độ năng lực cán bộ được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Vai trò đại diện của Hội trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên nông dân được phát huy.

Các phong trào thi đua do Hội phát động tiếp tục phát triển sâu, rộng và được nâng cao về chất, có sức lan tỏa góp phần phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân.

Đạt được những kết quả trên là có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hội và Hội Nông dân các cấp cùng với sự nỗ lực, cố gắng của toàn thể cán bộ, hội viên nông dân.

Hạn chế, yếu kém.

Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho hội viên, nông dân một số nơi còn hạn chế; hình thức, phương pháp tuyên truyền chậm được đổi mới, hiệu quả thấp. Có nơi nông dân bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo tham gia khiếu kiện đông người, gây mất an ninh trật tự ở địa phương.

Công tác xây dựng tổ chức Hội còn một số bất cập: tổ chức bộ máy cán bộ cấp tỉnh, huyện chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất trong cả nước; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ một số tổ chức Hội chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Một số địa phương sinh hoạt chi, tổ Hội chưa đều, nội dung sinh hoạt còn nghèo nàn, thiếu hấp dẫn; tỷ lệ hội viên tham gia sinh hoạt còn thấp.

Phương thức hoạt động của Hội một số nơi chậm đổi mới, còn mang tính hành chính, hình thức, kém hiệu quả. Công tác sơ, tổng kết, khen thưởng có lúc chưa kịp thời.

Công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền chỉ đạo thực hiện Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư và Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ở một số tỉnh, thành Hội còn chậm; việc tổ chức thực hiện còn lúng túng, hiệu quả chưa cao.

Một số nơi chưa chú trọng công tác kiểm tra, giám sát. Việc nắm bắt tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhất là diễn biến tư tưởng, băn khoăn, bức xúc của nông dân còn chậm. Công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất và đời sống của hội viên, nông dân chưa kịp thời.

Phong trào nông dân phát triển chưa đều giữa các địa phương; chất lượng và hiệu quả 3 phong trào lớn của Hội một số nơi còn thấp. Việc hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn còn lúng túng; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm có giá trị và sức cạnh tranh cao còn chậm.

Tổ chức hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân, hợp tác quốc tế, triển khai một số chương trình, dự án hiệu quả chưa cao. Năng lực cán bộ tham gia xây dựng và phản biện chính sách còn nhiều hạn chế, chưa làm tốt chức năng đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân.

Nguyên nhân hạn chế, yếu kém.

Nguyên nhân chủ quan.

Năng lực tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện của cán bộ Hội các cấp còn hạn chế. Tổ chức bộ máy của Hội ở địa phương còn bất cập, số lượng biên chế chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ Hội nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, nhiệm vụ của Hội, còn làm việc theo lối hành chính.

Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội ở một số nơi chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác Hội và phong trào nông dân trong tình hình mới và nhu cầu của hội viên, nông dân.

 Một số tỉnh, thành Hội chưa tích cực, chủ động tham mưu cho cấp ủy và tranh thủ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của chính quyền, sự phối hợp với các ngành, đoàn thể để tổ chức triển khai công tác Hội và phong trào nông dân; thiếu chủ động trong vận động nguồn lực, còn trông chờ vào ngân sách Nhà nước và Hội cấp trên.

Một số cơ sở Hội chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác kiểm tra, giám sát, thiếu kiên quyết trong việc xử lý dứt điểm tồn tại, yếu kém.

Nguyên nhân khách quan.

Một số cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác Hội và phong trào nông dân.

Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra đối với sản xuất nông nghiệp.

Một số cơ chế, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa phù hợp, chưa tạo điều kiện tốt cho nông dân phát triển sản xuất.

 Cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí phục vụ cho hoạt động của Hội Nông dân cấp huyện và cấp xã còn nhiều khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

II- Bài học  kinh nghiệm.

Một là, các cấp Hội cần nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhất là về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để gắn vào công tác Hội và các phong trào nông dân.

Hai là, các cấp Hội chủ động tham mưu cho cấp ủy Đảng để có chủ trương lãnh đạo cụ thể; tranh thủ sự hỗ trợ của chính quyền để có nguồn lực hoạt động; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành, đoàn thể để có sức mạnh tổng hợp trong triển khai thực hiện công tác Hội và phong trào nông dân.

Ba là, các cấp Hội phải kịp thời đổi mới phương thức hoạt động phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; mọi chủ trương, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân phải xuất phát từ lợi ích thiết thực của hội viên, nông dân. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng mạnh về cơ sở; coi trọng chỉ đạo điểm để nhân ra diện rộng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý vi phạm.

Bốn là, thường xuyên củng cố nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội Nông dân các cấp; chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội các cấp có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Hội.

Năm là, thường xuyên chỉ đạo đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết, tuyên truyền phổ biến và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong công tác Hội và phong trào nông dân.

 

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ,

GIẢI PHÁP CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN NHIỆM KỲ VI  (2013-2018)

 

Trong những năm tới, kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, bất ổn. Tình hình ở biển Đông vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang là những thách thức gay gắt với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có nước ta. Toàn cầu hoá kinh tế và cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Cạnh tranh về kinh tế - thương mại, thị trường… giữa các nước ngày càng gay gắt. Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.

Đảng và Nhà nước tiếp tục thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nghị quyết số 26- NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đang được các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện và đông đảo nông dân hưởng ứng tham gia với nhiều cách làm sáng tạo, phù hợp. Ngành nông nghiệp đang thực hiện các giải pháp tái cấu trúc ngành theo hướng phát huy lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Quá trình tích tụ ruộng đất sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, cơ giới hóa nông nghiệp tăng nhanh, sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp ngày càng phát triển. Hợp tác, liên kết trong sản xuất nông nghiệp và khai thác hải sản trên biển... là xu thế phát triển trong thời gian tới. 

Trong những năm sắp tới, nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và còn nhiều vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn cần phải giải quyết. Các giá trị văn hoá truyền thống đứng trước thách thức bị mai một; ô nhiễm môi trường nông thôn, tệ nạn xã hội gia tăng, an ninh trật tự trên địa bàn nông thôn còn diễn biến phức tạp. Nông nghiệp nước ta tiếp tục chịu áp lực cạnh tranh rất lớn do sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu, năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu. Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp còn yếu kém. Trình độ văn hoá, tay nghề, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Tăng trưởng nông nghiệp mới chỉ tạo ra khối lượng nhiều, nhưng giá trị thấp; hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên chưa cao.

Do tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nông dân sẽ ngày càng giảm đi về số lượng, nhưng chất lượng ngày càng tăng lên. Theo dự báo, lao động nông nghiệp nước ta sẽ còn khoảng 40% lao động xã hội vào năm 2015 và 30% vào năm 2020. Một bộ phận nông dân thiếu đất, thiếu việc làm cùng với ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, cạnh tranh của cơ chế thị trường… làm cho phân hoá giàu, nghèo diễn ra nhanh hơn, tác động sâu sắc đến sản xuất, đời sống của một bộ phận nông dân và nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn.

Tình hình trên, sẽ tạo ra cả những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, của giai cấp nông dân và tổ chức Hội Nông dân trong thời gian tới. Đòi hỏi tổ chức Hội Nông dân các cấp phải vươn lên ngang tầm với nhiệm vụ, đáp ứng những yêu cầu mới của thực tiễn đặt ra về nâng cao nhận thức chính trị, trình độ sản xuất, quản lý, kinh doanh và ý thức trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân.

A- PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU

Quán triệt quan điểm của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XI; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011-2020); Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Phương hướng, mục tiêu của Hội và phong trào nông dân trong 5 năm tới là:

I- Phương hướng

Phát huy tinh thần “Đoàn kết- đổi mới- chủ động- hội nhập- phát triển bền vững”, vai trò trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới; tiếp tục thực hiện Kết luận số 62- KL/TW, ngày 8/12/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội; đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động theo hướng kết hợp chặt chẽ công tác tập hợp, tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; giám sát, phản biện xã hội và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với đẩy mạnh hợp tác tăng cường các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề, đáp ứng nhu cầu và lợi ích thiết thực của hội viên, nông dân. Trực tiếp và phối hợp thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp Nông dân Việt Nam vững mạnh; đào tạo người nông dân có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ bản lĩnh chính trị, giữ vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

II- Mục tiêu

1- Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, có đủ năng lực tập hợp, đoàn kết, phát huy dân chủ, sức sáng tạo của hội viên, nông dân; tham gia xây dựng và tổ chức nông dân thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

2- Đẩy mạnh các phong trào thi đua trong nông dân, huy động các nguồn lực hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, giảm nghèo bền vững; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân. Tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn nông thôn.

3- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ của cán bộ, hội viên, nông dân; từng bước xây dựng đội ngũ lao động nông thôn có tác phong công nghiệp, có năng lực quản lý và kỹ năng sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong và ngoài nước, từng bước thực hiện vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

III- Các chỉ tiêu chủ yếu

Thực hiện phương hướng và mục tiêu trên, trong nhiệm kỳ (2013-2018) phấn đấu đạt được một số chỉ tiêu cơ bản sau đây:

1- Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của Hội cho trên 95% hội viên, nông dân.

2- Phát triển hội viên mới, với trên 80% số hộ nông dân có hội viên nông dân.

3- Cơ sở Hội khá và vững mạnh đạt trên 85%, giảm cơ sở Hội yếu kém xuống dưới 1%.

4- Có 80% cán bộ chủ chốt ở cơ sở Hội có trình độ chuyên môn đạt chuẩn theo qui định; 80% cán bộ chi, tổ Hội được bồi dưỡng, tập huấn về lý luận và nghiệp vụ công tác Hội.

5- 100% chi Hội có Quỹ Hội, bình quân từ 30.000đ trở lên/hội viên/năm.

6- Hằng năm có từ 60% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 50% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

7- Quỹ Hỗ trợ nông dân tăng trưởng 15% trở lên/năm.

8- Hằng năm vận động từ 90% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 85% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Gia đình văn hoá.

9- 100% Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện; 80% Hội Nông dân cấp xã tổ chức được hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân có hiệu quả.

10- Hằng năm Hội Nông dân các cấp trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho 220.000 nông dân; trong đó tỷ lệ có việc làm đạt 70% trở lên.

11- 80% Hội Nông dân cấp xã hướng dẫn, tổ chức nông dân xây dựng được ít nhất một mô hình kinh tế tập thể có hiệu quả.

B- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

I- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”; Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư; Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Các cấp Hội chủ động tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Kết luận số 61-KL/TW, ngày 3/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”, Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011-2020 và Kế hoạch của Ban Chỉ đạo Trung ương về Đề án 61. 

Tích cực, khẩn trương triển khai nhiệm vụ được Chính phủ giao cho Hội chủ trì, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ: đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh; đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân. Nắm vững nhu cầu của nông dân và khả năng của Hội, xây dựng các đề án, dự án, chủ động phối hợp với các bộ, ngành tham gia thực hiện một số chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26- NQ/TW, Hội nghị Trung ương bảy (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

Tổ chức nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về sự biến đổi, xu hướng phát triển và vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế thế giới. Nghiên cứu, đề xuất các tiêu chí và chiến lược hành động xây dựng người nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, để có cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

II- Công tác xây dựng Hội

1- Công tác tuyên truyền, giáo dục

Tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng của nông dân, giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc, tinh thần đoàn kết và khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức là nhiệm vụ chính trị của các cấp Hội. Trọng tâm là tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về mục tiêu, nội dung của Chương trình xây dựng nông thôn mới; về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nông dân và các nghị quyết của Hội đến đông đảo cán bộ, hội viên, nông dân. Cung cấp kịp thời các thông tin về thị trường, giá cả nông sản, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, qui trình sản xuất… để nông dân lựa chọn và ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh. Chú trọng việc tuyên truyền cho nông dân vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới; nông dân, ngư dân vùng bãi ngang ven biển, hải đảo. Thường xuyên, sâu sát trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, bức xúc của nông dân để phản ánh, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền có biện pháp giải quyết kịp thời.

Tăng cường công tác giáo dục, khơi dậy tinh thần yêu nước và cách mạng, tình làng, nghĩa xóm, nếp sống văn minh, ý chí tự lực, tự cường vươn lên của nông dân thông qua việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến những mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, các gương điển hình tiên tiến của các tập thể, cá nhân; tổ chức các hội thi, cuộc thi tìm hiểu về truyền thống lịch sử của Đảng, của Hội, tìm hiểu về pháp luật… đồng thời với đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

 Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục. Đa dạng hoá các hình thức thông tin, tuyên truyền, bám vào thực tiễn, tăng cường đối thoại giữa nông dân với chính quyền, các ngành, các nhà khoa học và doanh nghiệp. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông đại chúng, nhân rộng các loại hình Câu lạc bộ nông dân có hiệu quả ở cơ sở. Nâng cao chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng của Hội như: Báo Nông thôn ngày nay, Tạp chí Nông thôn mới, các trang Báo điện tử, Bản tin của các cấp Hội... nhằm chủ động cung cấp kịp thời thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; các chủ trương, nghị quyết của Hội; định hướng cho các hoạt động của các cấp Hội.

2- Xây dựng, củng cố tổ chức Hội các cấp

Xây dựng, củng cố tổ chức Hội các cấp mạnh về chính trị, thống nhất về tư tưởng và tổ chức. Nâng cao năng lực tập hợp, vận động, phát huy dân chủ, sức sáng tạo của hội viên, nông dân; hướng dẫn, tổ chức nông dân thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa,  xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

Đẩy mạnh việc tập hợp, thu hút và kết nạp hội viên mới, chú trọng phát triển hội viên là ngư dân, vùng bãi ngang ven biển, các chủ trang trại, các doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, các nhà khoa học, cán bộ công chức nghỉ hưu… tập trung nâng cao chất lượng hội viên về nhận thức và bản lĩnh chính trị, năng lực, trình độ sản xuất, quản lý, kinh doanh, tính gương mẫu trong chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, qui định của địa phương. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt Hội, nội dung sinh hoạt phải đa dạng, phong phú, thiết thực đến quyền lợi và nghĩa vụ của hội viên, nông dân và các vấn đề hội viên, nông dân đang cần hỗ trợ, giúp đỡ, tạo động lực để hội viên, nông dân gắn bó với tổ chức Hội.

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội, quan tâm đội ngũ cán bộ ở cơ sở, cán bộ nữ vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của công tác Hội và phong trào nông dân. Thực hiện Quyết định số 1045/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Trường Cán bộ Hội Nông dân Việt Nam, hoàn thiện chương trình, giáo trình giảng dạy, tăng cường đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất. Chú trọng việc nghiên cứu đổi mới nội dung, chương trình, hình thức đào tạo, phương pháp dạy và học theo hướng thiết thực, hiệu quả; các kỹ năng hoạt động thực tiễn của Hội về tổ chức, quản lý, điều hành, vận động, hướng dẫn nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập.

Xây dựng và phát triển Quỹ Hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho các hoạt động ở cơ sở, chi, tổ Hội trên cơ sở các nguồn thu từ hội phí của hội viên và mở rộng phát triển các nguồn thu từ tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn của Hội.

3- Công tác kiểm tra, giám sát

Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; Điều lệ và nghị quyết của Hội. Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý vi phạm theo quy định nhằm phục vụ có hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành các cấp Hội, đánh giá đúng kết quả hoạt động Hội và phong trào nông dân. Động viên, khuyến khích, biểu dương tập thể, cá nhân chấp hành tốt và phổ biến, nhân rộng các điển hình tiên tiến; bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, biện pháp công tác Hội, góp phần đổi mới nội dung, phương thức hoạt động Hội.

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và triển khai thực hiện thống nhất trong hệ thống Hội các quy định, hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Hội. Củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả công tác tham mưu của Ban Kiểm tra các cấp Hội; chú trọng công tác kiểm tra việc thực hiện Điều lệ Hội, các chương trình, dự án do Hội thực hiện. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm trong công tác Hội làm công tác kiểm tra.

4- Tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành các cấp Hội

Tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành các cấp, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của Hội. Tập trung vào tuyên truyền, phổ biến kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, cung cấp thông tin thị trường đến hội viên, nông dân. Nâng cao chất lượng tham mưu, đề xuất, tham gia xây dựng chính sách, giám sát và phản biện xã hội. Tham gia thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn và tổ chức các phong trào thi đua lớn của nông dân theo hướng thiết thực, hiệu quả phù hợp với tình hình và khả năng của tổ chức Hội và hội viên, nông dân.

Tăng cường việc chỉ đạo, xây dựng các mô hình kinh tế theo hướng hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân có hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng nơi để tổng kết, phổ biến nhân rộng. Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả Quỹ Hỗ trợ nông dân ở các cấp Hội. Nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ, tư vấn và dạy nghề cho nông dân và hoạt động của các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân, đáp ứng nhu cầu của hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện  đời sống.

Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Hội, nâng cao vai trò chủ động của Ban Chấp hành các cấp Hội, tham mưu, đề xuất với cấp uỷ Đảng về công tác qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ Hội.

5- Công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn

Nâng cao năng lực ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ; nghiên cứu và tổng kết thực tiễn của Hội nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hội viên, nông dân về ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Phối hợp với các viện nghiên cứu khoa học để nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân. Tổng kết các mô hình trong các lĩnh vực hoạt động của Hội tham gia phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh có hiệu quả để nhân rộng.

Chủ động phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ sở khoa học để tập trung đào tạo nguồn nhân lực với đa dạng hình thức phù hợp cho từng đối tượng, từng địa phương. Đồng thời, chú trọng việc tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ tiên tiến cho hội viên, nông dân.

Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức và tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân tham gia “Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật nhà nông”; tôn vinh, khích lệ, động viên nông dân có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Phát triển, nhân rộng các Câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật nhà nông ở cơ sở, giúp hội viên, nông dân tiếp cận kiến thức, kinh nghiệm và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.

6- Công tác thi đua - khen thưởng

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức các phong trào thi đua, trọng tâm là 3 phong trào thi đua lớn của Hội, gắn với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Đổi mới mạnh mẽ về công tác khen thưởng, đảm bảo nguyên tắc, công khai, dân chủ, công bằng, đúng người, đúng thành tích, khen kịp thời có tác dụng cổ vũ, động viên phong trào thi đua của cán bộ, hội viên, nông dân ngày càng thiết thực, hiệu quả. Chú trọng khen thưởng, biểu dương những tập thể, cá nhân trực tiếp sản xuất ở cơ sở.

III- Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước của nông dân, hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”

1- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững

Tiếp tục phát động và nâng cao chất lượng phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, vận động nông dân đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, tạo ra nguồn lực to lớn từ nội bộ nông dân để làm giàu và giảm nghèo bền vững. Trong chỉ đạo tổ chức thực hiện phong trào cần gắn với thực hiện các nội dung về chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, giảm nghèo và an sinh xã hội của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu để phong trào có bước phát triển mới về chất, làm xuất hiện ngày càng nhiều hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi có qui mô lớn, ứng dụng công nghệ sản xuất hiện đại, đạt trình độ sản xuất tiên tiến trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; đáp ứng các yêu cầu số lượng, chất lượng, mẫu mã, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản nước ta trên thị trường trong nước và thị trường thế giới.

Các cấp Hội cần làm tốt vai trò là đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp, nhà khoa học với các hộ sản xuất, kinh doanh giỏi xây dựng các mô hình kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để tuyên truyền nhân rộng. Vận động nông dân tham gia các hình thức tập trung ruộng đất để nâng qui mô sản xuất, phát triển nhanh các mô hình trang trại, gia trại, hợp tác xã, xây dựng cánh đồng mẫu lớn để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Vận động nông dân đẩy mạnh phát triển kinh tế biển: khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo; tích cực trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Chủ động phối hợp với các ngành để đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho những nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp.

Tích cực tuyên truyền, vận động, tư vấn, hướng dẫn nông dân tham gia các hình thức kinh tế tập thể; chú trọng hỗ trợ về vốn, chuyển giao khoa học kỹ thuật và đào tạo nghề cho nông dân. Tổ chức cho cán bộ, hội viên, nông dân đi thăm quan học hỏi kinh nghiệm trong nước và nước ngoài. Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp hỗ trợ hội viên, nông dân trong sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm.

Vận động các hộ sản xuất, kinh doanh giỏi giúp các hộ nghèo về kỹ thuật, vốn, vật tư và kinh nghiệm sản xuất, giúp đỡ có hiệu quả đối với các hộ nghèo. Hằng năm, phối hợp tổ chức phân loại, làm rõ nguyên nhân các hộ nghèo, cận nghèo để có biện pháp cụ thể hỗ trợ, giúp đỡ hội viên, nông dân nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo bền vững. 

2- Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới

Tổ chức Hội các cấp tiếp tục phát động và tổ chức thực hiện Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, hưởng ứng Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động. Quán triệt kỹ các mục tiêu, nội dung của Chương trình và vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới thực hiện theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước hỗ trợ, nhân dân làm và hưởng thụ kết quả xây dựng nông thôn mới. Vận động hội viên, nông dân hưởng ứng tích cực tham gia hiến kế xây dựng đề án, góp ý qui hoạch, xác định các công trình, hạng mục đầu tư, hiến đất, đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm, công sức, tiền của. Tham gia thực hiện và giám sát các công trình xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn như: đường giao thông nông thôn, cải tạo, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, các công trình phục vụ nhu cầu về văn hoá, thể thao, giáo dục, y tế, các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể của địa phương, tổ chức Hội đảm nhận thực hiện một số việc cụ thể trong các nội dung của Chương trình xây dựng nông thôn mới, góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới nhanh đi vào cuộc sống.

Vận động cán bộ, hội viên, nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu Gia đình văn hóa; tham gia xây dựng thôn, ấp, bản, làng, xã văn hóa, thực hiện Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Phối hợp với các cấp, các ngành thực hiện các nhiệm vụ phát triển văn hoá nông thôn; tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao quần chúng; tổ chức các Cuộc thi “Nhà nông đua tài”, liên hoan “Tiếng hát đồng quê”, các giải Bóng đá, Bóng chuyền nông dân… tạo sân chơi lành mạnh, nâng cao nhận thức, trình độ và cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho hội viên, nông dân.

Chủ động phối hợp với các cấp, các ngành liên quan tham gia thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, giáo dục, bảo hiểm cho nông dân, an toàn giao thông, an toàn lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm, bình đẳng giới, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc giáo dục trẻ em... góp phần nâng cao dân trí, giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn. Vận động hội viên, nông dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường nông thôn, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Chú trọng việc tổng kết phát hiện những sáng kiến, kinh nghiệm hay, cách làm có hiệu quả, các gương điển hình của các tập thể, cá nhân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới để phổ biến, nhân rộng.

3- Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh

Các cấp Hội chủ động phối hợp với các lực lượng vũ trang tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, lợi dụng tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Động viên gia đình hội viên, nông dân thực hiện tốt Luật nghĩa vụ quân sự và các chính sách "hậu phương quân đội". Tham gia các hoạt động "đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn", phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, xây dựng nhà tình nghĩa... phối hợp với lực lượng Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng các "điểm sáng vùng biên", tự quản đường biên, mốc giới, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vùng ven biển, biên giới. Vận động ngư dân bám biển tích cực sản xuất, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Tham gia thực hiện các phong trào:Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc,phòng chống tội phạm. Phối hợp với ngành Công an chỉ đạo xây dựng và nhân rộng các mô hình nông dân tự quản, giữ gìn an ninh, trật tự ở nông thôn. Vận động nông dân tố giác tội phạm, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, ma túy, mại dâm, cờ bạc; giúp đỡ những người mắc các tệ nạn xã hội, những người lầm lỗi đã cải tạo trở về với cộng đồng. Tiếp tục xây dựng và nhân rộng các mô hình, các câu lạc bộ phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở nông thôn hoạt động có hiệu quả. Tích cực tham gia hòa giải các vụ việc mâu thuẫn trong nội bộ nông dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn nông thôn.

IV- Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất; tham gia vận động, hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn.

Tạo nguồn vốn cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh: Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân, trên cơ sở đề nghị Nhà nước tiếp tục bổ sung kinh phí và huy động từ nhiều nguồn, đảm bảo nguồn vốn ở các cấp đều tăng trưởng; sử dụng vốn đúng mục đích, đạt hiệu quả cao và an toàn tín dụng. Tiếp tục củng cố, hoàn thiện mô hình tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành Quỹ Hỗ trợ nông dân các cấp. Công tác xây dựng, quản lý, sử dụng Quỹ phải được gắn kết với các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề cho nông dân nhằm xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo có hiệu quả để tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng; thực hiện tốt vai trò là công cụ, phương tiện của tổ chức Hội trong việc vận động, hướng dẫn nông dân. Tiếp tục phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội; nguồn vốn Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm… giúp nông dân vay vốn và hướng dẫn nông dân sử dụng vốn vay có hiệu quả.

Phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp tổ chức các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nông dân: Tổ chức các hoạt động khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; tập huấn chuyển giao qui trình kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng các mô hình trình diễn để hội viên, nông dân áp dụng vào sản xuất; cung cấp thông tin thị trường, cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp, xây dựng thương hiệu sản phẩm. Tăng cường hợp tác, liên kết với các cơ sở nghiên cứu, các nhà khoa học, các doanh nghiệp… giúp hội viên, nông dân nâng qui mô sản xuất và xây dựng các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác, liên kết sản xuất, kinh doanh; tham gia thực hiện các chương trình, dự án sản xuất ra sản phẩm chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường nông thôn; phát triển các mô hình cánh đồng mẫu lớn nhằm tăng nhanh thu nhập; đào tạo nâng cao trình độ sản xuất, nhận thức cho nông dân…  nâng cao năng lực truyền thông của Hội,mở rộng các dịch vụ thông tin giúp nông dân tiếp cận được thông tin về chủ trương, chính sách; thông tin về khoa học và công nghệ, thị trường và các hoạt động của Hội. Phối hợp tổ chức các hoạt động du lịch nông thôn.

Tích cực, khẩn trương triển khai nhiệm vụ được Chính phủ giao cho Hội Nông dân Việt Nam chủ trì, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh: Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập. Chú trọng việc dạy nghề tại chỗ, huy động hội viên, nông dân là nghệ nhân, nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi trực tiếp truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm, dạy nghề cho nông dân, góp phần chuyển bớt lao động trong nông nghiệp sang lĩnh vực khác; tạo điều kiện cho hộ nông dân tích tụ được ruộng đất để sản xuất hàng hóa tập trung, có trình độ cao. 

Nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, hướng dẫn hội viên, nông dân: Tư vấn các qui định của pháp luật liên quan đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trợ giúp pháp lý cho nông dân; hướng dẫn hội viên, nông dân tham gia các hình thức kinh tế tập thể, liên kết, hợp tác trong sản xuất, kinh doanh.

V- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Tổ chức Hội các cấp tiếp tục chỉ đạo cán bộ, hội viên, nông dân nêu cao trách nhiệm xây dựng Đảng, Nhà nước. Vận động, hướng dẫn hội viên, nông dân thực hiện các qui định về góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tham gia cuộc vận động xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, vận động nông dân tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thường xuyên bồi dưỡng, giới thiệu những cán bộ, hội viên ưu tú để các cấp ủy Đảng xem xét kết nạp vào Đảng. Chú trọng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ trẻ của Hội có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức để bổ sung vào nguồn cán bộ của Đảng và chính quyền các cấp. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia hiệp thương, giới thiệu nhân sự tham gia cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Phối hợp với chính quyền các cấp, các ngành chức năng để hoà giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân, tổ chức tiếp nông dân, đối thoại với nông dân, hạn chế việc khiếu kiện vượt cấp, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân. Thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở, kịp thời phát hiện những hành vi tiêu cực, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân. Đại diện cho nông dân trong việc đàm phán, xử lý tranh chấp với các đối tác khi quyền lợi của nông dân bị xâm phạm.

VI- Tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Các cấp Hội thường xuyên nắm chắc tình hình nông nghiệp, nông thôn; tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị, đề xuất chính đáng của nông dân, những vướng mắc, bất hợp lý trong quá trình tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách; chủ động và có chính kiến trong việc tham mưu, đề xuất tham gia xây dựng chủ trương, cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

Thực hiện qui định của Đảng về công tác giám sát và phản biện xã hội. Các cấp Hội phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban, ngành, đoàn thể giám sát việc  thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; trọng tâm là các chủ trương, chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nông dân.

VII- Mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế

Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại của Hội theo đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng. Tích cực, chủ động mở rộng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các đại sứ quán nhằm tăng cường tình đoàn kết, thu hút nguồn lực, thúc đẩy hợp tác về kinh tế, chuyển giao khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đào tạo cán bộ, hội viên, nông dân, tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông dân; phối hợp với các cơ quan chức năng đẩy mạnh việc đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài...

Nâng cao nhận thức, kiến thức của cán bộ Hội các cấp về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, hội nhập quốc tế và công tác đối ngoại của Hội. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá về đất nước, con người Việt Nam, nông dân, nông sản hàng hoá và tổ chức Hội Nông dân Việt Nam với bạn bè quốc tế. Tổ chức các đoàn cán bộ, hội viên nông dân đi nghiên cứu, trao đổi, học tập kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các tổ chức nông dân, tổ chức nông nghiệp của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, các cơ quan hữu quan và chính quyền địa phương và giữa các cấp Hội trong việc triển khai các hoạt động đối ngoại. Tăng cường công tác quản lý, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nguồn viện trợ của các tổ chức quốc tế tài trợ cho Hội.

*

*     *

 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam kêu gọi toàn thể cán bộ, hội viên, nông dân cả nước phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, tăng cường đoàn kết, thống nhất vượt qua khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, phát huy sức mạnh của giai cấp nông dân nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ 2013 - 2018, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
41.200
41.420
Vàng nhẫn
41.170
41.590
Vàng nhẫn
41.170
41.690
Tỷ giá
EUR
26248.54
GBP
30598.59
USD
23240