Thứ sáu, 13/12/2019 (GMT+7)
Giá nông sản
ĐỀ CƯƠNG Phổ biến, học tập, quán triệt Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI nhiệm kỳ 2013-2018
02:55 - 23/09/2013

 

 

 

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

*

 

     Hà Nội, ngày 04 tháng 9  năm 2013

 

ĐỀ CƯƠNG

Phổ biến, học tập, quán triệt Văn kiện Đại hội

đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI nhiệm kỳ 2013- 2018

 

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI được tổ chức trọng thể từ ngày 30/6 đến ngày 03/7/2013 tại thủ đô Hà Nội. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của giai cấp nông dân và nhân dân cả nước và cũng là dịp để tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giai cấp nông dân, của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Đại hội có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ V, nhiệm kỳ 2008 - 2013; đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ 2013 - 2018.

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI V, NHIỆM KỲ 2008 – 2013

Thực hiện Nghị quyết Đại hội V Hội Nông dân Việt Nam, 5 năm qua cán bộ, hội viên, nông dân đã đoàn kết chặt chẽ, năng động, sáng tạo; nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn, thách thức thực hiện thắng lợi phư­ơng hướng, mục tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ 2008 - 2013.

I- Về tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Trong 5 năm qua, bên cạnh những thuận lợi do tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do những yếu kém vốn có của nền kinh tế, thiên tai, dịch bệnh; tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân cả nước, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện.

1- Nông nghiệp:

- Tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

- Một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí cao trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, thủy sản...

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp tăng trưởng khá; riêng năm 2012 đạt 23,9 tỷ USD, chiếm 1/5 kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

- Khoa học, công nghệ, cơ giới hóa nông nghiệp được áp dụng rộng rãi góp phần tăng năng suất lao động, tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

- Kết quả đạt được trong sản xuất nông nghiệp đã góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng và phát triển bền vững.

- Thành tựu đạt được trong sản xuất nông nghiệp có vai trò đóng góp to lớn của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam.

2- Nông dân:

- Chiếm gần 70% dân số và trên 50% lực lượng lao động xã hội. Nông dân ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn về kiện ăn, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe. Năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn 9,6% (theo tiêu chí mới), thu nhập bình quân đầu người tăng gần 2 lần so với năm 2008.

- Trình độ dân trí được nâng lên và ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường; dân chủ được mở rộng, quyền làm chủ của nông dân được phát huy. Vị thế chính trị của giai cấp nông dân và Hội Nông dân ngày càng được nâng cao, khẳng định vai trò chủ thể trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

- Tuy vậy, hiện nay đa số nông dân vẫn là những hộ sản xuất quy mô nhỏ, còn nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Nông dân còn nhiều băn khoăn, lo lắng về sự phát triển chưa vững chắc của nền kinh tế; về dịch bệnh ở cây trồng, vật nuôi; về ô nhiễm môi trường; về biến đổi khí hậu, về thu mua tạm trữ, tiêu thụ nông sản, nhập khẩu muối, vật tư nông nghiệp, khai thác khoáng sản, hải sản, bảo hiểm nông nghiệp,... chưa mang lại quyền lợi thực sự cho nông dân. Chính sách tín dụng nông dân khó tiếp cận; chính sách về đất đai còn bất cập, việc thu hồi đất nông nghiệp, đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư chưa phù hợp, dẫn đến một bộ phận nông dân mất đất sản xuất, không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn.

3- Nông thôn:

- Tiếp tục được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới.Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp, thu hút sự tham gia tích cực của nông dân.

Hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới, kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề.

- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường. Đã có 98,6% số xã có điện; 96,2% hộ có điện lưới thắp sáng; 49,2% số hộ nông dân có nhà kiên cố; 87,4% hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh; có 71,8% số xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; 97,8% số xã có đường ô tô đến trung tâm; 49,1% số xã có nhà văn hoá; 89,3% số xã có bưu điện văn hóa; 90,8% số xã có trường trung học cơ sở; hầu hết số xã có trường tiểu học và lớp mẫu giáo.

- Mặc dù vậy, nông thôn phát triển còn thiếu quy hoạch, các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp kém, môi trường bị ô nhiễm, năng lực ứng phó với thiên tai còn nhiều hạn chế, vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới chưa đáp ứng được yêu cầu. Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng nông thôn mới còn thiếu. Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền còn lớn, đang có xu hướng nới dần khoảng cách.

II- Kết quả công tác Hội và phong trào nông dân

1- Công tác xây dựng Hội đã đạt được những kết quả quan trọng

- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, hội viên nông dân có nhiều đổi mới, với nhiều hình thức phong phú, sinh động, thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội, Câu lạc bộ nông dân, nêu gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình điển hình tiên tiến; phát hành bản tin, ra chuyên trang chuyên mục trên Báo, Tạp chí, Bản tin công tác Hội, Website của các cấp Hội và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng gắn với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; các cuộc thi, hội thi ở cơ sở. Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng; cổ vũ khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường vươn lên của nông dân, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nông dân với Đảng và Nhà nước.

- Công tác củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở Hội được chú trọng; chất lượng hoạt động của các chi, tổ Hội và chất lượng hội viên được nâng lên. Trong nhiệm kỳ cả nước kết nạp được trên 2 triệu hội viên mới, nâng tổng số hội viên lên 10.442.278, tăng 4,4% so với nhiệm kỳ trước; có 10.536 cơ sở Hội, 95.246 thôn, ấp, bản, làng có chi Hội, đạt 100% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra; số cơ sở Hội khá và vững mạnh đạt 92,17% vượt 15,2% so với chỉ tiêu Đại hội.

- Công tác kiểm tra, giám sát của Hội được tăng cường và đi vào nền nếp; chất lượng, hiệu quả được nâng lên. Trung ương Hội đã ban hành Quy định về công tác kiểm tra và kỷ luật của Hội. Hệ thống cơ quan kiểm tra và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được kiện toàn. Qua kiểm tra, giám sát đã phát hiện và xử lý 53 vụ vi phạm, trong  đó có một tập thể và 52 cá nhân. Qua đó, góp phần khắc phục thiếu sót, ngăn chặn và hạn chế tiêu cực, sai phạm; chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả công tác.

- Các cấp Hội đã đẩy mạnh công tác xây dựng tài chính và cơ sở vật chất của Hội. Kết quả đã có 95.246 chi Hội xây dựng được Quỹ Hội, đạt 100% so với chỉ tiêu Đại hội V đề ra. Cơ sở vật chất của Hội ngày càng được tăng cường. Các trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân khu vực và các tỉnh, thành phố tiếp tục được đầu tư nâng cấp.

- Sự chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành HND các cấp có sự đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; hướng về cơ sở, sát hội viên, nông dân và tình hình thực tiễn ở địa phương; lấy lợi ích để tập hợp nông dân vào Hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn lợi ích, nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân;

Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020” đã được Ban Bí thư TW Đảng thông qua và ban hành Kết luận số 61-KL/TW, ngày 3/12/2009. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011- 2020. Trung ương Hội đã ký chương trình phối hợp với 6 bộ; các tỉnh, thành Hội đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ban hành các văn bản chỉ đạo, đồng thời xây dựng đề án, chương trình, ký phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan để triển khai thực hiện, đã đạt được 1 số kết quả bước đầu: triển khai được 25 dự án xây dựng mới và nâng cấp các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh; Quỹ Hỗ trợ nông dân Trung ương Hội được cấp bổ sung 300 tỷ đồng; 45 tỉnh, thành phố đã cấp hoặc ủy thác ngân sách cho Quỹ Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh 560 tỷ đồng.

- Công tác đối ngoại của Hội Nông dân Việt Nam có bước phát triển mới. Hội đã có quan hệ hữu nghị và hợp tác với trên 40 tổ chức nông dân, tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động đối ngoại đã góp phần hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực cán bộ Hội.

- Công tác chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất của các cấp Hội được đẩy mạnh, đã khơi dậy phong trào thi đua sáng tạo, cải tiến khoa học - kỹ thuật, nâng cao trình độ lao động của nông dân; trang bị cho nông dân nhiều kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới để áp dụng vào sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Số hộ nông dân ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật ngày càng tăng lên.

2- Các phong trào nông dân thi đua yêu nước do Hội Nông dân Việt Nam phát động và tổ chức thực hiện có bước phát triển mới

- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng tiếp tục phát triển cả bề rộng và chiều sâu có sức lan tỏa trong nhiều lĩnh vực: nông lâm, ngư nghiệp, thủy sản. Hằng năm có 8,2 triệu hộ đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Các cấp Hội tổ chức tổng kết phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi giai đoạn 2007-2011) đã biểu dương hàng nghìn nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp tỉnh, huyện và cơ sở; Hội nghị đại biểu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi toàn quốc lần thứ IV, biểu dương 309 nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tiêu biểu xuất sắc.    

- Các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động nông dân hưởng ứng Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn bằng những việc làm thiết thực như: hiến đất và đóng góp hàng nghìn tỷ đồng, hàng chục triệu ngày công lao động để làm đường giao thông, thủy lợi nội đồng, kiên cố hóa kênh mương, xây dựng đường điện hạ thế, phòng học, nhà văn hóa xã, thôn, bản, đắp bờ bao chống lũ... Tích cực xây dựng gia đình văn hóa; tham gia xây dựng thôn, ấp, bản, làng, xã văn hóa; thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội; phòng chống các tệ nạn xã hội; giữ gìn vệ sinh, an toàn thực phẩm, cảnh quan môi trường nông thôn xanh, sạch, đẹp; tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tổ chức các cuộc thi “Nhà nông đua tài”, “Tiếng hát đồng quê”, “Giải Bóng chuyền bông lúa vàng”, “Bóng đá nông dân” …góp phần nâng cao đời sống tinh thần, mở rộng giao lưu học hỏi, hiểu biết giữa các dân tộc, các vùng miền trong cả nước. Bình quân mỗi năm có 9 triệu hộ nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá, trong đó có 8,5 triệu hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá.

- Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng an ninh đượccác cấp Hội quan tâm. Các cấp Hội đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; luôn cảnh giác với diễn biến hòa bình và chia rẽ dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng đại đoàn kết; thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự và chính sách hậu phương quân đội, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Chủ động phối hợp với lực lượng Quân đội, Công an triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác quốc phòng, an ninh. Tham gia xây dựng các tổ tự quản, tổ an ninh nhân dân, tổ hòa giải ở thôn xóm; phát động phong trào nông dân tham gia bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên biển, đảo và đường biên, mốc giới, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn.

3- Các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống cho hội viên, nông dân phát triển mạnh mẽ 

- Các cấp Hội đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện thuận lợi giúp cho 2,4 triệu lượt hộ vay, với tổng dư nợ 37.990 tỷ đồng; 664.900 lượt hộ vay 16.000 tỷ đồng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; có  trên 100 ngàn lượt hộ nông dân được vay vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân, cùng với nguồn vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm do Hội quản lý đã góp phần quan trọng giúp đỡ hội viên nông dân có vốn đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Trong đó nhiều hộ đã thoát nghèo một số hộ trở thành hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi.     

- Các cấp Hội phối hợp tổ chức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho nông dân thông qua mô hình “Vận động nông dân chấp hành pháp luật về sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch”; phát hành Cẩm nang tư vấn pháp luật; mở các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho cán bộ, hội viên, nông dân.

- Trung ương Hội và nhiều tỉnh, thành Hội đã phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông sản tại các khu vực; xây dựng hệ thống “Sàn kết nối cung cầu nông nghiệp thực phẩm”; chương trình tăng cường công nghệ thông tin cho nông dân trồng lúa 13 tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và cung cấp vật tư­, máy công cụ, phân bón theo phư­ơng thức trả chậm; tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học- kỹ thuật, xây dựng mô hình trình diễn... giúp cho nông dân có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh.

- Các cấp Hội trực tiếp và phối hợp dạy nghề ngắn hạn cho 1.096.000 nông dân, vượt 9,6% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

- Các cấp Hội đã tích cực triển khai hướng dẫn hội viên, nông dân phát triển các loại hình kinh tế tập thể phù hợp với từng địa bàn, từng ngành nghề và trình độ phát triển ở từng khu vực để giải quyết những khâu, những việc mà từng hộ không làm được hoặc làm không có hiệu quả. Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành Hội đã xây dựng được mô hình kinh tế tập thể mang lại hiệu quả bước đầu.

4- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

- Các cấp Hội đã tổ chức để cán bộ, hội viên nông dân tham gia ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tham gia đóng góp ý kiến phê bình cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Năm 2011, các cấp Hội đã tích cực vận động nông dân tham gia các hội nghị lấy ý kiến nhận xét đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, hội viên nông dân hăng hái đi bầu cử đạt tỷ lệ cao. Giới thiệu các hội viên ưu tú để Đảng xem xét, kết nạp.

Phát huy dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, các cấp Hội đã tích cực triển khai, giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Phối hợp với các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hòa giải thành hàng vạn vụ mâu thuẫn ngay từ cơ sở, tiếp nhận và tham gia giải quyết hàng nghìn đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của hội viên nông dân.

- Các cấp Hội đã tổ chức lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên đóng góp đối với tập thể, cá nhân cấp ủy cùng cấp theo chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

- Ban Chấp hành các cấp Hội đã đổi mới phong cách lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành. Đi sâu, sát cơ sở, nắm chắc tình hình, nhất là những bức xúc trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kịp thời phản ánh với Đảng, Nhà nước.

Với những kết quả trên, trong nhiệm kỳ qua, công tác Hội và phong trào nông dân cả nước đã được Chủ tịch nước tặng thưởng 88 Huân chương các loại; Chính phủ tặng 13 Cờ thi đua, Thủ tướng Chính phủ tặng 224 Bằng khen cho tập thể cá nhân đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân VN đã tặng 194 Cờ, 10.357 Bằng khen, 42.444 Kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam”; các tỉnh, thành Hội đã tặng hàng nghìn Bằng khen, Giấy khen cho tập thể và cá nhân có nhiều thành tích đóng góp cho công tác xây dựng Hội và phong trào nông dân. Đặc biệt năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam, giai cấp nông dân Việt Nam đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng (lần 2) phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước trao tặng.

III- Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm

1- Đánh giá chung

- Nhiệm kỳ qua các cấp Hội đã tích cực, chủ động, sáng tạo đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân nỗ lực thực hiện hoàn thành cơ bản các mục tiêu Đại hội V, nhiệm kỳ 2008- 2013 đã đề ra.

- Nội dung, phương thức hoạt động của Hội, công tác chỉ đạo và điều hành của Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp có nhiều đổi mới, đã gắn việc tập hợp, đoàn kết, tuyên truyền, vận động với đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn và hỗ trợ nông dân.

Đã hoàn thành tốt việc xây dựng Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”; thực hiện hiệu quả Đề án về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân VN giai đoạn 2010- 2015. Đã tạo được cơ chế, chính sách để các cấp Hội trực tiếp tham gia các hoạt động hỗ trợ, tạo nguồn lực giúp đỡ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và xây dựng nông thôn mới.

- Hội Nông dân các cấp ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Hội và chất lượng hội viên được nâng lên; công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng; công tác cán bộ có nhiều chuyển biến tiến bộ, trình độ năng lực cán bộ được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Vai trò đại diện của Hội trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên nông dân được phát huy.

- Các phong trào thi đua do Hội phát động tiếp tục phát triển sâu, rộng và được nâng cao về chất, có sức lan tỏa góp phần phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân.

Hạn chế, yếu kém.

- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho hội viên, nông dân một số nơi còn hạn chế; hình thức, phương pháp chậm đổi mới, hiệu quả thấp. Nông dân còn bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo tham gia khiếu kiện.

- Công tác xây dựng tổ chức Hội còn một số bất cập: tổ chức bộ máy cán bộ cấp tỉnh, huyện chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất trong cả nước; trình độ, năng lực cán bộ một số tổ chức Hội chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Một số địa phương sinh hoạt chi, tổ Hội chưa đều, nội dung nghèo nàn, thiếu hấp dẫn; tỷ lệ hội viên tham gia sinh hoạt còn thấp.

- Phương thức hoạt động của Hội một số nơi chậm đổi mới, còn mang tính hình thức, kém hiệu quả. Công tác sơ, tổng kết, khen thưởng có lúc chưa kịp thời.

- Công tác tham mưu cấp ủy, chính quyền chỉ đạo thực hiện Kết luận 61- KL/TW của Ban Bí thư và Quyết định 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ một số tỉnh, thành Hội còn chậm và lúng túng, hiệu quả chưa cao.

- Phong trào nông dân phát triển chưa đều giữa các địa phương; chất lượng và hiệu quả 3 phong trào lớn của Hội một số nơi còn thấp. Việc hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn còn lúng túng.

- Tổ chức hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân, triển khai một số chương trình, dự án hiệu quả chưa cao. Năng lực cán bộ tham gia xây dựng và phản biện chính sách còn nhiều hạn chế, chưa làm tốt chức năng đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân.

 Nguyên nhân hạn chế, yếu kém.

Nguyên nhân chủ quan.

 - Tổ chức bộ máy của Hội ở địa phương còn bất cập, số lượng biên chế chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Trình độ, năng lực cán bộ các cấp Hội còn hạn chế.

 - Một số cấp Hội chưa tích cực chủ động tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn cho nông dân.

 - Một số tỉnh, thành Hội chưa tích cực, chủ động tham mưu cho cấp ủy và tranh thủ sự giúp đỡ, tạo điều kiện của chính quyền, sự phối hợp với các ngành, đoàn thể để tổ chức triển khai công tác Hội và phong trào nông dân.

Nguyên nhân khách quan.

- Một số cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác Hội và phong trào nông dân.

- Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra.

 - Một số cơ chế, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa phù hợp, chưa tạo điều kiện tốt cho nông dân phát triển sản xuất.

 - Cơ sở vật chất, thiết bị, kinh phí phục vụ cho hoạt động của Hội Nông dân cấp huyện và xã còn nhiều khó khăn, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

3- Bài học kinh nghiệm

Một, các cấp Hội cần nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nhất là về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để gắn vào công tác Hội và các phong trào nông dân.

Hai, chủ động tham mưu cho cấp ủy Đảng để có chủ trương lãnh đạo cụ thể; tranh thủ sự hỗ trợ của chính quyền để có nguồn lực hoạt động; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành, đoàn thể để có sức mạnh tổng hợp trong triển khai thực hiện công tác Hội và phong trào nông dân.

Ba, các cấp Hội phải kịp thời đổi mới phương thức hoạt động phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, hướng mạnh về cơ sở. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý vi phạm.

Bốn, thường xuyên củng cố nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội Nông dân các cấp; chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội các cấp có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Hội.

Năm, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết, tuyên truyền phổ biến và nhân rộng các điển hình tiên tiến.

Phần thứ 2

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN NHIỆM KỲ 2013-2018

Quán triệt các quan điểm của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XI; Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội 10 năm (2011-2020); Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ 2013 - 2018 như sau:

          I- Phương hướng, mục tiêu

          1- Phương hướng

Phát huy tinh thần “Đoàn kết- Đổi mới-Chủ động-Hội nhập-Phát triển bền vững”, vai trò trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới; Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động theo hướng kết hợp chặt chẽ công tác tập hợp, tuyên truyền, vận động hội viên nông dân, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; giám sát, phản biện xã hội và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước với đẩy mạnh hợp tác tăng cường các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề, đáp ứng nhu cầu và lợi ích thiết thực của hội viên, nông dân. Trực tiếp và phối hợp thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp Nông dân Việt Nam vững mạnh; đào tạo người nông dân có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ bản lĩnh chính trị, giữ vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

2- Mục tiêu

- Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, có đủ năng lực tập hợp, đoàn kết, phát huy dân chủ, sức sáng tạo của hội viên, nông dân; tham gia xây dựng và tổ chức nông dân thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

- Đẩy mạnh các phong trào thi đua trong nông dân, huy động các nguồn lực hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, giảm nghèo bền vững; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân. Tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới và giữ gìn ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn nông thôn.

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ của cán bộ, hội viên, nông dân; từng bước xây dựng đội ngũ lao động nông thôn có tác phong công nghiệp, có năng lực quản lý và kỹ năng sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường nông sản và thị trường lao động trong và ngoài nước, từng bước thực hiện vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Đại hội đã biểu quyết 100% ý kiến nhất trí thông qua 11 chỉ tiêu chủ yếu sau:

* Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của Hội cho trên 95% hội viên, nông dân.

* Phát triển hội viên mới, với trên 80% số hộ nông dân có hội viên nông dân.

* Cơ sở Hội khá và vững mạnh đạt trên 85%, giảm cơ sở Hội yếu kém xuống dưới 1%.

* Có 80% cán bộ chủ chốt ở cơ sở có trình độ chuyên môn đạt chuẩn theo qui định; 80% cán bộ chi, tổ Hội được bồi dưỡng, tập huấn về lý luận và nghiệp vụ công tác Hội.

* 100% chi Hội có Quỹ Hội, bình quân từ 30.000đ trở lên/hội viên/năm. 

* Hằng năm có từ 60% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 50% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

* Quỹ hỗ trợ nông dân tăng trưởng 15% trở lên/năm.

* Hằng năm vận động từ 90% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 85% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu gia đình văn hoá.

* 100% Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện; 80% Hội nông dân cấp xã tổ chức được hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân có hiệu quả.

* Hằng năm Hội Nông dân các cấp trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho 220.000 nông dân; trong đó tỷ lệ có việc làm đạt 70% trở lên.

* 80% Hội Nông dân cấp xã hướng dẫn, tổ chức nông dân xây dựng được ít nhất một mô hình kinh tế tập thể có hiệu quả.

II- Nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ 2013-2018

Đại hội đã đề ra 7 nhiệm vụ và giải pháp cho nhiệm kỳ 2013-2018 như sau:

1-Chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án“Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”; Kết luận số 61- KL/TW của Ban Bí thư; Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

- Các cấp Hội chủ động tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền triển khai thực hiện Kết luận số 61-KL/TW, ngày 3/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Trọng tâm là đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh; đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân.

- Tổ chức nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về sự biến đổi, xu hướng phát triển và vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam. Nghiên cứu, đề xuất các tiêu chí và chiến lược hành động xây dựng người nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

2- Công tác xây dựng Hội

a- Công tác tuyên truyền, vận động

- Tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trọng tâm là tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các nghị quyết của Hội; về mục tiêu, nội dung của Chương trình xây dựng nông thôn mới; về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Chú trọng việc tuyên truyền cho nông dân vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới; nông dân, ngư dân vùng bãi ngang ven biển, hải đảo.

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến những mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, các gương điển hình tiên tiến của các tập thể, cá nhân; tổ chức các hội thi, cuộc thi tìm hiểu về truyền thống lịch sử của Đảng, của Hội, tìm hiểu về pháp luật…gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

 b- Xây dựng, củng cố tổ chức Hội các cấp

- Xây dựng, củng cố tổ chức Hội các cấp mạnh về chính trị, thống nhất về tư tưởng và tổ chức. Nâng cao năng lực tập hợp, vận động, phát huy dân chủ, sức sáng tạo của hội viên, nông dân.

- Đẩy mạnh việc tập hợp, thu hút và kết nạp hội viên mới, chú trọng phát triển hội viên là ngư dân, vùng bãi ngang ven biển, các chủ trang trại, các doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, cán bộ công chức nghỉ hưu,…gắn với nâng cao chất lượng hội viên.

- Nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Trường Cán bộ Hội Nông dân VN. Chú trọng nghiên cứu đổi mới nội dung, chương trình, hình thức đào tạo, phương pháp dạy và học theo hướng thiết thực, hiệu quả.

- Xây dựng và phát triển quỹ Hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho các hoạt động ở cơ sở, chi, tổ Hội .

c- Công tác kiểm tra, giám sát

- Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý vi phạm theo quy định nhằm giúp công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành các cấp Hội, đánh giá đúng kết quả hoạt động Hội và phong trào nông dân. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và triển khai thực hiện thống nhất trong hệ thống Hội các quy định, hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Hội. Củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả công tác tham mưu của ban kiểm tra các cấp Hội; chú trọng công tác kiểm tra việc thực hiện Điều lệ Hội, các chương trình, dự án do Hội thực hiện.

d- Tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành các cấp Hội

- Tiếp tục đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành các cấp, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của Hội. Nâng cao chất lượng tham mưu, đề xuất, tham gia xây dựng chính sách, giám sát và phản biện xã hội.

- Tăng cường việc chỉ đạo nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ, tư vấn và dạy nghề cho nông dân và hoạt động của các trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân, đáp ứng nhu cầu của hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện  đời sống.

- Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Hội, nâng cao vai trò chủ động của Ban Chấp hành các cấp Hội, tham mưu, đề xuất với cấp uỷ Đảng về công tác qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ Hội.

đ- Công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn

- Nâng cao năng lực ứng dụng, chuyển giao và tổng kết thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hội viên, nông dân về ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Phối hợp với các viện nghiên cứu khoa học để nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân. Tổng kết các mô hình trong lĩnh vực hoạt động của Hội tham gia phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh có hiệu quả để nhân rộng.

- Chủ động phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ sở khoa học để tập trung đào tạo nguồn nhân lực với đa dạng hình thức phù hợp cho từng đối tượng, từng địa phương. Đồng thời, chú trọng việc tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ tiên tiến cho hội viên, nông dân.

- Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức và tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân tham gia “Cuộc thi sáng tạo kỹ thuật nhà nông”; tôn vinh, khích lệ, động viên nông dân có nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật.

e- Công tác thi đua - khen thưởng

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tổ chức các phong trào thi đua, trọng tâm là 3 phong trào thi đua lớn của Hội, gắn với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

- Đổi mới mạnh mẽ về công tác khen thưởng, đảm bảo nguyên tắc, công khai, dân chủ, công bằng, đúng người, đúng thành tích, khen kịp thời có tác dụng cổ vũ, động viên phong trào thi đua của cán bộ, hội viên, nông dân ngày càng thiết thực, hiệu quả. Chú trọng khen thưởng, biểu dương những đơn vị, cá nhân trực tiếp sản xuất ở cơ sở.

3- Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước của nông dân, hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”

a- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững

- Tiếp tục phát động và nâng cao chất lượng phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, vận động nông dân đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, tạo ra nguồn lực to lớn từ nội bộ nông dân để làm giàu và giảm nghèo bền vững. Phấn đấu để phong trào có bước phát triển mới về chất, làm xuất hiện ngày càng nhiều hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi có qui mô lớn, ứng dụng công nghệ sản xuất hiện đại, đạt trình độ sản xuất tiên tiến trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

- Các cấp Hội cần làm tốt vai trò là đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp, nhà khoa học với các hộ sản xuất, kinh doanh giỏi xây dựng các mô hình hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để tuyên truyền nhân rộng. Vận động nông dân “dồn điền, đổi thửa” và các hình thức tập trung ruộng đất khác để nâng qui mô sản xuất, phát triển nhanh các mô hình trang trại, gia trại, xây dựng cánh đồng mẫu lớn để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Vận động nông dân đẩy mạnh phát triển kinh tế biển: khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo; tích cực trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Chủ động phối hợp với các ngành để đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho những nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp. Vận động các hộ sản xuất, kinh doanh giỏi giúp các hộ nghèo về kỹ thuật, vốn, vật tư và kinh nghiệm sản xuất.

b- Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới

- Tổ chức Hội các cấp tiếp tục phát động và tổ chức thực hiện phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới, hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động. Vận động hội viên, nông dân hưởng ứng tích cực tham gia hiến kế xây dựng đề án, góp ý qui hoạch, xác định các công trình, hạng mục đầu tư, hiến đất, đóng góp kinh nghiệm, công sức, tiền của xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể của địa phương, tổ chức Hội đảm nhận thực hiện một số việc cụ thể trong các nội dung của Chương trình xây dựng nông thôn mới.

- Vận động cán bộ, hội viên, nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hóa; xây dựng thôn, ấp, bản, làng, xã văn hóa. Phối hợp các cấp, các ngành tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao quần chúng; tổ chức thi “Nhà nông đua tài”, liên hoan “Tiếng hát đồng quê”, các giải bóng đá, bóng chuyền nông dân…

c- Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh

- Các cấp Hội chủ động phối hợp với các lực lượng vũ trang tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu tự diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch.

- Động viên gia đình hội viên, nông dân thực hiện tốt Luật nghĩa vụ quân sự và các chính sách "hậu phương, quân đội". Phối hợp với Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng các "điểm sáng vùng biên", tự quản đường biên, mốc giới, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vùng ven biển, biên giới. Vận động ngư dân bám biển, tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

- Tham gia thực hiện phong tràotoàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc,phòng chống tội phạm góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn nông thôn.

4- Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất; tham gia vận động, hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn

- Tạo nguồn vốn cho nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh. Phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ hỗ trợ nông dân; tiếp tục củng cố, hoàn thiện tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành Quỹ Hỗ trợ ND các cấp; phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội giúp nông dân vay vốn và hướng dẫn nông dân sử dụng vốn vay có hiệu quả.

- Phối hợp với các bộ, ngành, doanh nghiệp tổ chức các hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nông dân. Tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; tập huấn chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng các mô hình trình diễn để hội viên, nông dân áp dụng vào sản xuất; cung cấp thông tin thị trường, cung ứng thiết bị, vật tư nông nghiệp, xây dựng thương hiệu sản phẩm. Phối hợp tổ chức các hoạt động du lịch nông thôn.

- Tích cực, khẩn trương triển khai nhiệm vụ dạy nghề và hỗ trợ việc làm nông dân. Chú trọng việc dạy nghề tại chỗ, huy động hội viên nông dân là nghệ nhân, nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi trực tiếp truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm, dạy nghề cho nông dân. 

- Nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, hướng dẫn hội viên, nông dân. Tư vấn các qui định của pháp luật liên quan đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trợ giúp pháp lý cho nông dân; hướng dẫn hội viên, nông dân tham gia các hình thức kinh tế tập thể, liên kết, hợp tác trong sản xuất, kinh doanh.

5- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

- Vận động, hướng dẫn hội viên, nông dân thực hiện các qui định về góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tham gia cuộc vận động xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, vận động nông dân tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thường xuyên bồi dưỡng, giới thiệu những cán bộ, hội viên ưu tú để các cấp ủy Đảng xem xét kết nạp vào Đảng.

- Phối hợp với chính quyền các cấp, các ngành chức năng để hoà giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân, tổ chức tiếp nông dân, đối thoại với nông dân, hạn chế việc khiếu kiện vượt cấp, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân. Thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở, kịp thời phát hiện những hành vi tiêu cực, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân.

6- Tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Chủ động trong việc tham mưu, đề xuất, tham gia xây dựng chủ trương, cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

- Thực hiện qui định của Đảng về công tác giám sát và phản biện xã hội. Các cấp Hội phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể giám sát việc  thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

7-  Mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế

- Tích cực, chủ động mở rộng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các đại sứ quán nhằm tăng cường tình đoàn kết, thu hút nguồn lực, thúc đẩy hợp tác về kinh tế, chuyển giao khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đào tạo cán bộ, hội viên nông dân.

- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá về đất nước, con người Việt Nam, nông dân, nông sản hàng hoá và Hội Nông dân Việt Nam với bạn bè quốc tế. Tổ chức các đoàn cán bộ, hội viên nông dân đi nghiên cứu, trao đổi, học tập kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các tổ chức nông dân, tổ chức nông nghiệp của các nước trong khu vực và trên thế giới./

------------

 

 

 

Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
SJC
41.300
41.530
Vàng nhẫn
41.290
41.710
Vàng nhẫn
41.290
41.810
Tỷ giá
EUR
26430.39
GBP
30731.63
USD
23230