Thứ sáu, 17/09/2021 (GMT+7)
Giá nông sản
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN TIẾN TỚI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
07:41 - 17/04/2013

Thực hiện chỉ thị số 11-CT/TW ngày 04/02/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về lãnh đạo đại hội Hội Nông dân các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI, nhiệm kỳ 2013- 2018; Kế hoạch số 499-KH/HNDTW ngày 20 tháng 7 năm 2011 của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam về Tổ chức Đại hội Hội Nông dân các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã có Hướng dẫn số 741-HD/HNDTW, ngày 6/10/2011 hướng dẫn công tác tuyên truyền Đại hội Hội Nông dân các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam; Kế hoạch số 991-KH/HNDTW, ngày 09/11/2012 kế hoạch tuyên truyền, khánh tiết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam dự kiến sẽ được tổ chức từ ngày 30 tháng 6 đến ngày 03 tháng 7 năm 2013.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu sự phát triển của tổ chức Hội và giai cấp nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Để công tác tuyên truyền về Đại hội được sâu rộng và có sức lan tỏa đến các cấp, các ngành và nhân dân cả nước, đạt được mục đích, yêu cầu theo tinh thần Chỉ thị của Ban Bí thư, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn đề cương tuyên truyền tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội nông dân Việt Nam. Nội dung đề cương tuyên truyền đề cập những nét chủ yếu của 05 nhiệm kỳ Đại hội; những thành tựu nổi bật của công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ 2008-2013 và phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2013-2018, cụ thể như sau:

I. CÁC KỲ ĐẠI HỘI CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, các tổ chức nông dân đã được thành lập để phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng Hội Nông dân Việt Nam đã mang nhiều tên gọi khác nhau: Năm 1930: Nông Hội đỏ; Từ 1936: Nông hội đỏ được mang tên là Hội tương tế ái hữu; Năm 1939: Hội Nông dân phản đế; Năm 1941: Hội Nông dân cứu quốc; Năm 1961 (ở miền Nam): Hội Nông dân giải phóng miền Nam; Năm 1974 (ở miền Bắc): Hội Nông dân tập thể; Năm 1979: Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam; ngày 01 tháng 3 năm 1988 Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI ra quyết định đổi tên Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam thành Hội Nông dân Việt Nam và quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Nông dân Việt Nam.

Đến nay, Hội Nông dân Việt Nam đã tổ chức thành công 5 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ Nhất (nhiệm kỳ 1988-1993)

Đại hội được tổ chức từ ngày 27 tháng 3 đến ngày 31 tháng 3 năm 1988 tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Tham dự Đại hội có 613 đại biểu.

Nghị quyết của Đại hội đã khẳng định: Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp nông dân, đoàn kết chặt chẽ với các tổ chức thành viên khác trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết tâm tiến theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ Nhất là sự kiện chính trị trọng đại, đã đánh dấu một mốc son quan trọng trên chặng đường lịch sử vẻ vang gần 6 thập kỷ của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam.

 Tại Đại hội này Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đồng chí Trường Chinh thay mặt Đảng, Nhà nước đã trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước cho giai cấp Nông dân Việt Nam.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 95 đồng chí và bầu 17 Ủy viên Ban Thường vụ. Đồng chí Phạm Bái - Ủy viên Trung ương Đảng được bầu giữ chức Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Các đồng chí Phó Chủ tịch: Hoàng Hồng Thất, Nguyễn Thành Thơ, Cầm Ngoan, Nguyễn Thị Huệ.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung Hội Nông dân Việt Nam lần thứ Sáu (khóa I) tại Hà Nội, từ ngày 30/10 đến ngày 02/11/1991 đã bầu đồng chí Hoàng Hồng Thất, Phó Chủ tịch Thường trực làm Quyền Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội thay đồng chí Phạm Bái nghỉ hưu. Từ ngày 02/6 đến ngày 05/6/1992, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam lần thứ Bảy (khóa I) đã họp tại Hà Nội, đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) - Ủy viên Trung ương Đảng giữ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ II (nhiệm kỳ 1993- 1998)

Đại hội diễn ra từ ngày 15 tháng 11 đến ngày 19 tháng 11 năm 1993 tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Dự Đại hội có 600 đại biểu.

Đại hội đã đánh giá phong trào nông dân, công tác xây dựng Hội; phương hướng, nhiệm vụ của Hội 5 năm tiếp theo, thông qua Điều lệ (sửa đổi) Hội Nông dân và thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Hội Nông dân Việt Nam.

Đây là Đại hội “Đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động”, là Đại hội của trí tuệ và niềm tin, nơi hội tụ ý chí và nguyện vọng của giai cấp nông dân quyết tâm đổi mới và xây dựng Hội Nông dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt.

Đại hội đã bầu 77 đồng chí vào Ban Chấp hành và 15 Ủy viên Ban Thường vụ, đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) - Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Các đồng chí Phó Chủ tịch: Nguyễn Đức Triều - Ủy viên Trung ương Đảng, Nguyễn Thị Huệ.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam lần thứ hai, họp từ ngày 01/3 đến 03/3/1994 tại Tp. Hồ Chí Minh đã bầu bổ sung đồng chí Lò Văn Inh giữ chức Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.

 Trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam lần thứ Năm (khóa II), họp tại Hà Nội từ ngày 09/01 đến ngày 10/01/1997, đã bầu đồng chí Nguyễn Đức Triều - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Thường trực giữ chức Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam thay đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) được Bộ Chính trị bố trí công tác mới, đồng chí Mai Thanh Ân (Bảy Khế), Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Hội được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ III (nhiệm kỳ 1998- 2003)

Đại hội diễn ra từ ngày 17 tháng 11 đến ngày 20 tháng 11 năm 1998 tại Cung Văn hóa Hữu nghị, Hà Nội.

Tham dự Đại hội có 700 đại biểu. Đại hội đã quán triệt nhiệm vụ đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Đại hội III có nhiệm vụ tiếp tục đổi mới và phát huy mạnh mẽ vai trò nòng cốt của Hội, tổ chức, động viên giai cấp nông dân phát huy nội lực, cần kiệm xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Tại Đại hội này thay mặt Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam.

Đại hội đã bầu 114 Ủy viên Ban Chấp hành, 19 Ủy viên Ban Thường vụ. Đồng chí Nguyễn Đức Triều - Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại giữ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Các đồng chí Phó Chủ tịch: Hoàng Diệu Tuyết, Lê Văn Nhẫn, Lê Văn Sang (Hùng Kháng).

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam lần thứ 8, họp từ ngày 28/01 đến ngày 29/01/2002 tại Hà Nội đã bầu bổ sung đồng chí Nguyễn Hữu Mai, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy tỉnh Quảng Nam giữ chức Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.

 Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam lần thứ 11, từ ngày 17/6 đến ngày 18/6/2003 tại Hà Nội đã bầu bổ sung các đồng chí: Phạm Quang Tôn, Trưởng ban Kinh tế - xã hội Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; đồng chí Lê Hoàng Minh, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy tỉnh Bạc Liêu làm Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam  lần thứ IV (nhiệm kỳ 2003-2008)

Đại hội diễn ra từ ngày 22 tháng 11 đến ngày 25 tháng 11 năm 2003 tại Cung Văn hóa Hữu nghị, Hà Nội. Đây là Đại hội ''Đoàn kết - Đổi mới - Dân chủ - Phát triển”.

Tham dự Đại hội có 860 đại biểu. Đại hội đã bầu 120 Ủy viên Ban Chấp hành và 21 Ủy viên Ban Thường vụ; đồng chí Vũ Ngọc Kỳ - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Các đồng chí Phó Chủ tịch: Hoàng Diệu Tuyết, Phạm Quang Tôn, Nguyễn Hữu Mai, Lê Hoàng Minh, Hà Phúc Mịch.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội lần thứ 8, ngày 26/02/2007 tại Hà Nội đã bầu đồng chí Nguyễn Quốc Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tài chính - Quản trị Trung ương, Bí thư Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam thay đồng chí Chủ tịch Vũ Ngọc Kỳ nghỉ hưu.

Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ V (nhiệm kỳ 2008- 2013)

Đại hội được diễn ra từ ngày 22 tháng 12 đến ngày 25 tháng 12 năm 2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Mỹ Đình - Hà Nội.

 Tham dự Đại hội có 1.175 đại biểu. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Bảy (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại hội V là Đại hội ''Đoàn kết - Đổi mới - Hội nhập -  Phát triển''.

Đoàn kết, năng động, sáng tạo, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh, là chủ thể trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; Hội Nông dân vững về chính trị, mạnh về tổ chức, thống nhất về hành động, là trung tâm và nòng cốt trong phong trào nông dân, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới; tham gia có hiệu quả vào công tác xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết dân tộc. Nâng cao vai trò đại diện; chăm lo nâng cao đời sống; bảo vệ lợi ích hợp pháp của hội viên, nông dân, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đồng thời đẩy mạnh 3 phong trào thi đua lớn của Hội, đó là: Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng; Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới; Phong trào nông dân tham gia đảm bảo quốc phòng, an ninh góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Để tăng cường sự phối kết hợp giữa các bộ, ngành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã ký kết chương trình phối hợp với hơn 40 Bộ, ngành.

Đại hội đã bầu 124 Ủy viên Ban Chấp hành và 21 Ủy viên Ban Thường vụ; đồng chí Nguyễn Quốc Cường - Ủy viên Trung ương Đảng được bầu giữ chức Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam. Các đồng chí Phó Chủ tịch: Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Lê Hoàng Minh, Hà Phúc Mịch, Nguyễn Duy Lượng, Lều Vũ Điều.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam lần thứ 9, ngày 05/7/2012 tại Hà Nội đã bầu bổ sung đồng chí Lại Xuân Môn, Chánh văn phòng Trung ương Hội và đồng chí Nguyễn Hồng Lý, Trưởng ban Dân Vận Tỉnh ủy Bạc Liêu giữ chức Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I đến lần thứ V của Hội Nông dân Việt Nam, giai cấp Nông dân Việt Nam luôn khẳng định vị trí, vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhất là trong giai đoạn hiện nay thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò, vị trí của giai cấp nông dân được thể hiện rất rõ là trung tâm, nòng cốt trong các phong trào nông dân và xây dựng nông thôn mới. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 2008) Hội Nông dân Việt Nam xác định tiêu chí Đoàn kết - Đổi mới - Hội nhập - Phát triển do đó nhiệm vụ, vai trò của Hội ngày càng trọng đại hơn.

Từ khi thành lập đến nay, Hội Nông dân Việt Nam không ngừng phát triển, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, thực hiện vai trò nòng cốt trong phong trào nông dân phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn trong quá trình đổi mới của đất nước; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên nông dân; tăng cường liên minh với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức, làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc; mở rộng hợp tác quốc tế góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

 

 

 

II. MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN NHIỆM KỲ 2008- 2013.

1. Công tác xây dựng Hội

- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, hội viên nông dân có nhiều đổi mới: đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức, đạt hiệu quả thiết thực. Các cấp Hội đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, Điều lệ của Hội, các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương để tuyên truyền, giáo dục. Nhiều hình thức tuyên truyền được triển khai như: tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi, tổ Hội, sinh hoạt Câu lạc bộ nông dân, phát hành tờ rơi, bản tin; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và tổ chức các cuộc thi, hội thi, các hoạt động xã hội, văn hóa, thể thao... đã góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm; cổ vũ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng, ý chí tự lực, tự cường vượt khó vươn lên của giai cấp nông dân, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của giai cấp nông dân đối với Đảng và Nhà nước.

- Công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội luôn được các cấp Hội chú trọng nâng cao về chất lượng tổ chức và hoạt động của Hội, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ Hội, chất lượng hội viên và phát triển hội viên mới. Tính đến ngày 31/12/2012, cả nước đã có 10.536 cơ sở Hội; 92.721 thôn, ấp, bản, làng có chi Hội, đạt 100%; số cơ sở Hội đạt vững mạnh tăng, vượt chỉ tiêu Đại hội V đề ra. Trong nhiệm kỳ qua cả nước kết nạp được trên 2 triệu hội viên mới, nâng tổng số hội viên lên 10.442.278, tăng 4,4% so với nhiệm kỳ trước. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) và Đề án 1045 đã được Chính phủ phê duyệt, Hội Nông dân Việt Nam đã tổ chức đào tạo cán bộ Hội ở hệ trung cấp và phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ Hội ở cơ sở, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ Hội ở vùng tôn giáo… Nội dung và phương thức hoạt động của Hội, công tác chỉ đạo và điều hành của Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp có nhiều đổi mới, hướng mạnh về cơ sở, sát hội viên, nông dân, đáp ứng ngày càng tốt hơn lợi ích và nguyện vọng chính đáng của hội viên, nông dân; Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp đã bám sát sự lãnh đạo của cấp ủy, tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền và chủ động phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể để tuyên truyền, vận động hội viên nông dân thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức các phong trào nông dân; mở rộng và nâng cao hiệu quả mối quan hệ với các doanh nghiệp, tổ chức quốc tế giúp hội viên nông dân phát triển sản xuất.

- Công tác kiểm tra, giám sát của Hội đã đi vào nền nếp. Hệ thống cơ quan kiểm tra và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được kiện toàn; đến nay, 63 tỉnh, thành Hội đã xây dựng hệ thống ban kiểm tra từ tỉnh đến cơ sở, với trên 34.600 cán bộ. Hằng năm, các cấp Hội đã xây dựng và triển khai thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát, chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện Điều lệ Hội, nghị quyết của Hội; kiểm tra công tác Hội và phong trào nông dân; việc thực hiện chương trình dự án, các công trình có vốn Nhà nước đầu tư, do Hội Nông dân trực tiếp quản lý; việc xây dựng, quản lý sử dụng Quỹ Hỗ trợ nông dân, vốn vay từ các ngân hàng để giúp nông dân phát triển sản xuất. Qua kiểm tra, giám sát đã góp phần khắc phục thiếu sót, hạn chế tiêu cực, sai phạm; chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cấp Hội.

- Các cấp Hội đã đẩy mạnh công tác xây dựng tài chính và cơ sở vật chất của Hội. Kết quả đã có 95.246 chi Hội xây dựng được Quỹ Hội, đạt 100% so với chỉ tiêu Đại hội V đề ra. Tổng nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân của cả nước đạt 1.186 tỷ đồng. Cơ sở vật chất của Hội ngày càng được tăng cường, đã xây dựng được 5 trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân khu vực và 25 trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân tỉnh, thành phố.

- Công tác đối ngoại của Hội Nông dân Việt Nam có bước phát triển mới. Hội đã có quan hệ hữu nghị và hợp tác với trên 40 tổ chức nông dân, tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động đối ngoại đã góp phần hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực cán bộ Hội.

- Công tác thi đua, khen thưởng đã chú ý hơn việc khen thưởng tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến ở cơ sở. Nhiệm kỳ qua, các cấp Hội đã được Chủ tịch nước tặng thưởng 158 Huân chương các loại; Chính phủ tặng 46 Cờ thi đua, Thủ tướng Chính phủ đã tặng 350 Bằng khen cho tập thể và cá nhân. Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tặng 194 Cờ, 10.357 Bằng khen, 42.444 Kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam”; các tỉnh, thành Hội đã tặng hàng nghìn Bằng khen, Giấy khen cho tập thể và cá nhân. Năm 2010, Hội Nông dân Việt Nam, giai cấp nông dân Việt Nam đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng (lần 2).

2. Các phong trào nông dân thi đua yêu nước do Hội Nông dân Việt Nam phát động và tổ chức thực hiện.

- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng ngày càng được đông đảo cán bộ, hội viên nông dân hưởng ứng tham gia. Bình quân hàng năm có 8,2 triệu hộ đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Từ phong trào đã xuất hiện nhiều nhiều mô hình sản xuất lớn, thu hút hàng trăm lao động, và mạng lại thu nhập hàng năm từ hàng trăm triệu đồng đến hàng chục tỷ đồng. So với giai đoạn 2003 - 2008, số hộ có mức thu nhập trên 200 triệu đồng/năm tăng gấp 3 lần, số hộ có mức thu nhập trên 1 tỷ đồng/năm tăng 5 lần. Điểm nổi bật là phong trào đã khuyến khích, động viên nông dân phát huy  tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, thi đua làm giàu, xây dựng nếp sống văn hóa ở nông thôn.    

- Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới được các cấp Hội tổ chức triển khai với nhiều hoạt động thiết thực, được đông đảo hội viên hưởng ứng tham gia bằng các hành động cụ thể như: hiến đất, đóng góp hàng nghìn tỷ đồng, hàng chục triệu ngày công để làm đường giao thông, kiên cố hóa kênh mương, cải tạo đường điện hạ thế, cải tạo và xây mới phòng học, nhà văn hóa xã, thôn, bản… Các cấp Hội đã có nhiều hoạt động tuyên truyền, vận động nông dân nâng cao ý thức, thực hiện và giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường nông thôn, xây dựng các mô hình phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường. Nhiều cuộc thi, hội thi và các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao khác được tổ chức nhằm tạo thêm cơ hội để hội viên nông dân học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc ở các vùng miền trong cả nước. Hàng năm, có 9 triệu hộ nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu gia đình văn hoá, trong đó có 8,5 triệu hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá.

- Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng an ninh được các cấp Hội đẩy mạnh. Các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, phổ biến kiến thức và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác quốc phòng, an ninh. Phối hợp với lực lượng quân đội, công an tổ chức xây dựng các điển hình, mô hình điểm về phòng chống tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội; xây dựng các tổ tự quản, tổ an ninh nhân dân, tổ hòa giải ở thôn xóm. Tại các vùng biên giới, hải đảo, hội viên, nông dân tham gia phối hợp tuần tra, bảo vệ biên giới, hải đảo, giữ vững chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền, trên biển, chống xâm canh, xâm cư; luôn cảnh giác và chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn.

3. Các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống cho hội viên, nông dân. 

- Các cấp Hội đã đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, hỗ trợ nông dân, thu hút các nguồn lực giúp nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh. Quỹ Hỗ trợ nông dân được củng cố và phát triển, giúp trên 100 ngàn lượt hộ nông dân được vay vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh. Các cấp Hội đã khai thác và quản lý tốt các nguồn vốn tín dụng qua kênh ủy thác; hiện dư nợ ủy thác từ Ngân hàng Chính sách đạt 37.990 tỷ đồng, với 2,4 triệu lượt hộ vay, dư nợ từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đạt gần 16.000 tỷ đồng, với 664.900 hộ vay. Mặc dù nguồn vốn còn hạn chế, nhưng đã có hàng triệu lượt hộ nông dân được vay vốn phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.

-  Hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho nông dân được các cấp Hội thực hiện thông qua các hoạt động và mô hình điểm như: in ấn, phát hành cẩm nang tư vấn pháp luật cho nông dân; mở các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho cán bộ, hội viên, nông dân; xây dựng mô hình tổ, nhóm nông dân, các câu lạc bộ nông dân với pháp luật...

- Trung ương Hội và nhiều tỉnh, thành Hội đã phối hợp tổ chức các hội chợ xúc tiến thương mại tại các khu vực nhằm tăng cường quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ nông sản, hàng hóa cho nông dân. Các cấp Hội đã chủ động phối hợp với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, các doanh nghiệp tổ chức 75.600 lớp tập huấn, chuyển giao khoa học- kỹ thuật cho 3.776.800 lượt hội viên nông dân, xây dựng được 120.780 mô hình trình diễn chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật về cây trồng, vật nuôi, ngành nghề mới có tác dụng thiết thực.

- Hoạt động dạy nghề và hỗ trợ việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn được đẩy mạnh và đã mang lại hiệu quả thiết thực. Các cấp Hội đã trực tiếp và phối hợp tham gia dạy nghề ngắn hạn cho 1.096.000 nông dân, vượt 9,6% chỉ tiêu Đại hội V đề ra. Hệ thống các trung tâm dạy nghề và hỗ trợ việc làm cùng các cơ sở vật chất khác của Hội được nâng cấp và xây dựng mới, đưa vào khai thác có hiệu quả đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn.

4. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

- Các cấp Hội đã tổ chức để cán bộ, hội viên nông dân tham gia ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tham gia đóng góp ý kiến phê bình cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tích cực tuyên truyền, vận động hội viên nông dân phát huy quyền làm chủ và trách nhiệm của công dân, tham gia xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở.

- Các cấp Hội đã Phát huy dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, vai trò giám sát và phản biện xã hội, tích cực triển khai, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; duy trì tốt việc tiếp dân, gắn với tuyên truyền pháp luật cho hội viên nông dân theo Chỉ thị số 26/CT-TTg. Phối hợp với các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hòa giải hàng trăm nghìn vụ việc mâu thuẫn trong nội bộ nông dân, tiếp nhận và tham gia giải quyết hàng nghìn đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của hội viên nông dân.

- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Trung ương Hội và các cấp Hội đã tổ chức lấy ý kiến đóng góp đối với tập thể, cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Thường vụ  các cấp ủy cùng cấp. 

II. DỰ KIẾN PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN NHIỆM KỲ 2013-2018.

1. Phương hướng

Quán triệt quan điểm của Đảng; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011-2020); Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phương hướng hoạt động của Hội và phong trào nông dân trong 5 năm tới là: Phát huy tinh thần “Đoàn kết-Đổi mới-Chủ động-Hội nhập-Phát triển bền vững”, vai trò trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động theo hướng kết hợp chặt chẽ công tác tập hợp, tuyên truyền, vận động hội viên nông dân, tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; giám sát, phản biện xã hội và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước với tăng cường các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề, đáp ứng nhu cầu và lợi ích thiết thực của hội viên, nông dân. Thực hiện có hiệu quả các chương trình đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp Nông dân Việt Nam vững mạnh có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ bản lĩnh chính trị, giữ vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

2. Mục tiêu

- Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, có đủ năng lực tập hợp, đoàn kết, phát huy dân chủ, sức sáng tạo của hội viên, nông dân; tham gia xây dựng và tổ chức nông dân thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

- Đẩy mạnh các phong trào thi đua trong nông dân, huy động các nguồn lực hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, giảm nghèo bền vững; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân. Tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới và giữ gìn ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn nông thôn.

- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ của cán bộ, hội viên, nông dân; từng bước xây dựng đội ngũ lao động nông thôn có tác phong công nghiệp, có năng lực quản lý và kỹ năng sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường nông sản và thị trường lao động trong và ngoài nước, từng bước thực hiện vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

3. Một số chỉ tiêu chủ yếu

Thực hiện phương hướng và mục tiêu trên, trong nhiệm kỳ (2013-2018) phấn đấu đạt được một số chỉ tiêu cơ bản sau đây:

- Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và nghị quyết của Hội cho trên 95% hội viên, nông dân.

- Phát triển hội viên mới, với trên 80% số hộ nông dân có hội viên nông dân.

- Cơ sở Hội khá và vững mạnh đạt trên 85%, giảm cơ sở Hội yếu kém xuống dưới 1%.

- Có 80% cán bộ chủ chốt ở cơ sở có trình độ chuyên môn đạt chuẩn theo qui định; 80% cán bộ chi, tổ Hội được bồi dưỡng, tập huấn về lý luận và nghiệp vụ công tác Hội.

- 100% chi Hội có Quỹ Hội, với số dư bình quân từ 30.000đ trở lên/hội viên/năm. 

- Đạt 50% chi hội có Tủ sách Nhà nông hoặc Tủ sách Pháp luật.

- Hằng năm có từ 60% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 50% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp.

- Quỹ hỗ trợ nông dân tăng trưởng 15% trở lên/năm.

- Hằng năm có từ 90% số hộ nông dân trở lên đăng ký phấn đấu và có từ 85% số hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu gia đình văn hoá.

- 100% Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện; 80% Hội nông dân cấp xã tổ chức được hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân có hiệu quả.

- Hằng năm Hội Nông dân các cấp trực tiếp và phối hợp dạy nghề cho 220.000 nông dân; trong đó tỷ lệ có việc làm đạt 60% trở lên.

- 80% Hội Nông dân cấp xã hướng dẫn, tổ chức nông dân xây dựng được ít nhất một mô hình kinh tế tập thể có hiệu quả.

4. Nhiệm vụ và giải pháp

4.1. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”;Kết luận số 61-KL/TW của Ban Bí thư; Quyết định số 673/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

- Các cấp Hội chủ động tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Kết luận số 61-của Ban Bí thư và Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ; tích cực triển khai các nhiệm vụ được Chính phủ giao cho Hội chủ trì, trực tiếp thực hiện; chủ động phối hợp với các bộ, ngành tham gia thực hiện một số chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

- Tổ chức nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về sự biến đổi, xu hướng phát triển và vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế thế giới. Nghiên cứu, đề xuất các tiêu chí và chiến lược hành động xây dựng người nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, để có cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

4.2. Công tác xây dựng Hội

- Tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đến hội viên, nông dân; thường xuyên, sâu sát trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, bức xúc của nông dân để phản ánh, đề xuất với cấp uỷ, chính quyền có biện pháp giải quyết kịp thời. Đổi mới nội dung, chú trọng tuyên truyền, giáo dục nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước và cách mạng, tình làng, nghĩa xóm, nếp sống văn minh, ý chí tự lực, tự cường vượt khó vươn lên của nông dân. Đa dạng hoá các hình thức thông tin, tuyên truyền; bám vào thực tiễn, tăng cường đối thoại giữa nông dân với chính quyền các cấp, các nhà khoa học và doanh nghiệp.

- Xây dựng, củng cố tổ chức Hội các cấp vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành các cấp; nâng cao năng lực tập hợp, vận động, phát huy dân chủ, sức sáng tạo của hội viên, nông dân. Đẩy mạnh việc kết nạp hội viên mới, nâng cao chất lượng hội viên. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt Hội theo hướng đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của hội viên, nông dân. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ Hội nhằm đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của công tác Hội và phong trào nông dân. Xây dựng, quản lý và khai thác có hiệu quả quỹ Hội và cơ sở vật chất, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho các hoạt động ở cơ sở, chi, tổ Hội.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; Điều lệ và nghị quyết của Hội. Kịp thời phát hiện, làm rõ những thiếu sót để uốn nắn, khắc phục và xử lý theo quy định nhằm phục vụ có hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành các cấp Hội. Bổ sung, hoàn thiện và triển khai thực hiện thống nhất trong hệ thống Hội các quy định, hướng dẫn về công tác kiểm tra, giám sát. Kiện toàn và nâng cao hiệu quả công tác tham mưu của ban kiểm tra các cấp Hội; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm trong công tác Hội làm công tác kiểm tra.

- Đổi mới mạnh mẽ về công tác khen thưởng, đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, công bằng, đúng người, đúng việc, đúng thành tích, khen kịp thời có tác dụng cổ vũ động viên phong trào thi đua của cán bộ, hội viên, nông dân ngày càng thiết thực, hiệu quả.

4.3. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước của nông dân, hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.

- Nâng cao chất lượng phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, vận động nông dân đoàn kết giúp nhau, tạo ra nguồn lực to lớn từ nội bộ nông dân để làm giàu và giảm nghèo bền vững. Trong chỉ đạo tổ chức thực hiện phong trào hướng vào vận động nông dân chuyển dịch cơ cấu, cây trồng, vật nuôi, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; phát triển kinh tế theo quy hoạc, kế hoạch, khai thác tiềm năng lợi thế của từng vùng, gắn sản xuất với chế biến nông sản để nâng cao thu nhập cho nông dân và giảm nghèo bền vững. Lồng ghép việc tuyên truyền, vận động, tư vấn, hướng dẫn nông dân tham gia xây dựng các hình thức kinh tế tập thể với hỗ trợ nông dân về vốn, chuyển giao khoa học kỹ thuật và đào tạo nghề cho nông dân. Tiếp tục phối hợp xây dựng các điểm “Sàn kết nối cung cầu nông nghiệp, thực phẩm” để hỗ trợ, cung cấp thông tin cho nông dân về thị trường, giá cả, phương thức tiêu thụ sản phẩm.

- Đẩy mạnh phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới và vận động hội viên, nông dân tham gia phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động. Vận động hội viên, nông dân tích cực tham gia góp ý qui hoạch, xác định hạng mục đầu tư; hiến đất, đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm, công sức, tiền của và tham gia thực hiện và giám sát thực hiện công trình xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn. Phối hợp với các cấp, các ngành thực hiện các nhiệm vụ phát triển văn hoá nông thôn; tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, tạo sân chơi lành mạnh, nâng cao nhận thức, trình độ và cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho hội viên, nông dân. 

- Các cấp Hội chủ động tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động lợi dụng tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phối hợp với lực lượng Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng các "điểm sáng vùng biên", xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vùng ven biển, biên giới; vận động ngư dân bám biển, tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Phối hợp với ngành Công an chỉ đạo, xây dựng và nhân rộng các mô hình nông dân tự quản, giữ gìn an ninh, trật tự ở nông thôn. Tích cực tham gia hòa giải các vụ việc mâu thuẫn trong nội bộ nông dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn nông thôn.

4.4. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất; tham gia vận động, hướng dẫn nông dân phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn

- Tích cực phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ hỗ trợ nông dân; tiếp tục phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội; nguồn vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm… giúp nông dân vay vốn và hướng dẫn nông dân sử dụng vốn vay có hiệu quả.

- Tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; tập huấn chuyển giao qui trình kỹ thuật, công nghệ mới, hỗ trợ xây dựng các điểm trình diễn, mô hình sản xuất nông sản chất lượng cao gắn với bảo vệ môi trường sinh thái... Nâng cao năng lực truyền thông của Hội, mở rộng các dịch vụ thông tin giúp nông dân tiếp cận được thông tin về chủ trương, chính sách; thông tin về khoa học và công nghệ, thị trường và các hoạt động của Hội. Phối hợp tổ chức các hoạt động du lịch nông thôn.

- Tích cực triển khai nhiệm vụ đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh để tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề và hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao thu nhập.  

- Nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, hướng dẫn hội viên, nông dân tham gia các hình thức kinh tế tập thể, liên kết, hợp tác trong sản xuất, kinh doanh.

4.5. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Tiếp tục chỉ đạo cán bộ, hội viên, nông dân nêu cao trách nhiệm xây dựng Đảng, Nhà nước. Vận động, hướng dẫn hội viên, nông dân tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở. 

- Phối hợp với chính quyền các cấp, các ngành chức năng để thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở; kịp thời phát hiện những hành vi tiêu cực, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân; hoà giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân, tổ chức tiếp nông dân, đối thoại với nông dân, không để khiếu kiện vượt cấp, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân.

4.6. Tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

- Các cấp Hội thường xuyên nắm chắc hình nông nghiệp, nông thôn; tâm tư, nguyện vọng của nông dân để đề xuất, tham gia xây dựng chủ trương, cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở nông thôn.

- Các cấp Hội phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các ban ngành, đoàn thể giám sát việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; trọng tâm là các chủ trương chính sách có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nông dân.

4.7. Mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế

- Nâng cao nhận thức, kiến thức của cán bộ Hội các cấp về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và công tác đối ngoại của Hội. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, quảng bá về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, nông sản hàng hoá và tổ chức Hội Nông dân Việt Nam với bạn bè quốc tế.

  - Tích cực, chủ động mở rộng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tổ chức nông dân, các tổ chức quốc tế nhằm tăng cường tình hữu nghị, tranh thủ nguồn lực, thúc đẩy hợp tác về kinh tế, chuyển giao khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, đào tạo cán bộ, đào tạo nông dân. Phối hợp với các cơ quan chức năng tìm thị trường và đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; tổ chức cho cán bộ, hội viên đi thăm quan, học tập kinh nghiệm quản lý, sản xuất ở các nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam…

         *

*       *

[Nguồn: Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam (1930 - 1995); Dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khoá V (nhiệm kỳ 2008- 2013) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI  Hội Nông dân Việt Nam (nhiệm kỳ 2013-2018)]

 

Thêm bình luận :
Họ và tên
Email
Tin tức liên quan :
Chương trình gặp gỡ hữu nghị nông dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia gắn với Hội chợ nông sản sạch

Bài đọc nhiều nhất

Tỷ giá

Giá vàng (ĐVT: tr đồng/lượng)
Loại
Mua vào
Bán ra
Tỷ giá